Đề xuất 06 chuỗi nhiệm vụ công nghệ chiến lược ngành Công Thương
Việt Nam đã ban hành Danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025. Tuy nhiên, theo đánh giá, đây mới là bước khởi đầu, chưa hình thành được hệ sinh thái công nghệ chiến lược ở quy mô quốc gia.
Tinh thần này tiếp tục được nhấn mạnh tại Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm, trong đó yêu cầu rà soát, hoàn thiện danh mục công nghệ và sản phẩm chiến lược, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026. Theo định hướng, công nghệ chiến lược không chỉ dừng ở danh mục, mà phải trở thành công cụ giải các bài toán lớn của quốc gia và ngành, tạo tăng trưởng, nâng cao tự chủ và năng lực cạnh tranh.
Tại Tọa đàm “Xây dựng Chương trình Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực Công Thương nhằm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị” do Bộ Công Thương tổ chức, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm - Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực, Thực phẩm Việt Nam đã đưa ra một cách nhìn thẳng thắn về thực trạng và định hướng đối với lựa chọn công nghệ và sản phẩm chiến lược.

PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm - Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực, Thực phẩm Việt Nam đề xuất danh mục 06 chuỗi/cụm nhiệm vụ công nghệ chiến lược trọng điểm cho giai đoạn 2026-2030
Ông chỉ ra một “nghịch lý” đáng chú ý: nhiều kết quả nghiên cứu công nghệ xong, nhưng chưa đi vào sản xuất do thiếu công cụ thực thi. Từ đó, ông nhấn mạnh vào ba quan điểm chủ đạo: Bảo đảm tính kế thừa và đồng bộ trong sử dụng kết quả nghiên cứu; Coi công nghệ chiến lược phải đi liền với làm chủ thiết bị nội địa; và Tiếp cận theo chuỗi giá trị xuyên suốt, thay vì các nhiệm vụ rời rạc.
Từ “quy trình ống nghiệm” đến “hệ thống pilot công nghiệp”
Đặt trong bối cảnh các định hướng lớn như Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024), Nghị quyết số 36-NQ/TW, Quyết định số 1131/QĐ-TTg (2025) và Nghị định số 267/2025/NĐ-CP, yêu cầu chuyển dịch từ nghiên cứu sang ứng dụng đang trở nên cấp thiết.
Theo PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm, “chúng ta đang có một kho báu quy trình công nghệ trong ngăn kéo, nhưng doanh nghiệp vẫn đứng ngoài cuộc vì thiếu công cụ thực thi”. Vì vậy, thay vì tiếp tục đầu tư dàn trải, cần “tập trung sàng lọc, tích hợp các kết quả nghiên cứu sẵn có vào các dây chuyền sản xuất thực tế”.
Ông cũng nhấn mạnh rằng, “một công nghệ chỉ được coi là chiến lược khi chúng ta làm chủ được cả ‘phần mềm’ (quy trình) và ‘phần cứng’ (thiết bị)”, trong đó nội địa hóa thiết bị quy mô pilot công nghiệp là yếu tố then chốt để giảm chi phí và nâng cao tính tự chủ của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, cách tiếp cận theo chuỗi giá trị được coi là trục xuyên suốt, khi “cần xây dựng các chuỗi nhiệm vụ kết nối từ nguồn nguyên liệu chiến lược (biển, rừng, nông nghiệp) đến công nghệ tinh chế sâu, thiết bị nội địa hóa và cuối cùng là sản phẩm có giá trị thặng dư cao”.
Đề xuất 06 chuỗi nhiệm vụ công nghệ chiến lược
Từ các quan điểm trên, PGS.TS. Nguyễn Duy Lâm đề xuất danh mục 06 chuỗi/cụm nhiệm vụ công nghệ chiến lược trọng điểm cho giai đoạn 2026-2030, hướng tới tạo đột phá về năng suất, hình thành ngành công nghiệp mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Trước hết, với cụm nhiệm vụ công nghiệp chế biến sau gạo, ông đề xuất “nâng cao giá trị thặng dư hạt gạo thông qua tinh chế sâu”, với các sản phẩm như gạo đồ chất lượng cao, dầu cám gạo tinh khiết, protein cô lập và tinh bột biến tính; đồng thời “sàng lọc các quy trình phòng thí nghiệm sẵn có và chế tạo hệ thống thiết bị quy mô pilot công nghiệp”.
Ở lĩnh vực protein thay thế, mục tiêu được xác định là “đón đầu xu hướng thực phẩm bền vững”, với các sản phẩm protein thực vật cấu trúc hóa, dịch đạm thủy phân và thực phẩm chức năng từ vi sinh vật; đi kèm yêu cầu “làm chủ công nghệ đùn ẩm cao, nghiên cứu độc tính và xây dựng tiêu chuẩn an toàn sinh học quốc gia”.
Đối với chuỗi giá trị công nghiệp hóa học biển, ông nhấn mạnh việc “biến phụ phẩm thủy sản thành nguyên liệu hàng hóa tinh khiết thay thế nhập khẩu”, với các sản phẩm như collagen, fucoidan, chitosan và squalene, đồng thời phát triển hệ thống chiết tách đa tầng tự động và định danh chất lượng nguyên liệu.
Trong chuỗi chế biến sâu dầu thực vật và axit béo mạch trung bình, định hướng là “làm chủ công nghệ tinh chế chất béo chuyên dụng từ nguyên liệu nội địa”, với các sản phẩm MCT, vitamin E tự nhiên, phytosterols và chất béo cấu trúc; cùng với đó là phát triển công nghệ chưng cất chân không và enzyme tái cấu trúc lipid, sản xuất nguyên liệu cho y tế và mỹ phẩm.
Với chuỗi công nghệ vật liệu carbon sinh học, mục tiêu được đặt ra là “chuyển hóa sinh khối thành vật liệu kỹ thuật cao phục vụ công nghiệp hỗ trợ và kinh tế xanh”, thông qua các sản phẩm như than hoạt tính, carbon nano, graphene sinh học và vật liệu cho luyện kim xanh; đi kèm việc nội địa hóa hệ thống nhiệt phân và xây dựng chứng chỉ carbon.
Cuối cùng, chuỗi nội địa hóa thiết bị và máy móc hóa công nghiệp được xác định là “trọng tâm thực thi”, nhằm “tạo nền tảng cứng để thương mại hóa các nghiên cứu và giảm 40–50% chi phí đầu tư thiết bị cho doanh nghiệp”. Các sản phẩm bao gồm hệ thống chiết tách siêu tới hạn, máy sấy thăng hoa, hệ thống lên men và máy đùn cấu trúc thực phẩm, với định hướng thiết kế modul hóa, tích hợp điều khiển thông minh và đào tạo nhân lực ngay tại xưởng.
Hồ Nga
1 giờ trước
40 phút trước
5 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước