🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đề án 1 triệu ha lúa: Từ giảm phát thải đến xây dựng thương hiệu “gạo Việt Nam xanh”

4 giờ trước
Các dự án quốc tế cần phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn để tạo ra ngành lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải cho Việt Nam.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp thông tin việc này tại cuộc họp kỹ thuật với các tổ chức quốc tế và đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường về triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL sáng 13/8 tại Hà Nội.

Đề án không thay đổi các mục tiêu đã đề ra, nhưng không giới hạn ở diện tích đã đăng ký mà từng bước mở rộng, tạo nền tảng để phương thức sản xuất chất lượng cao, giảm phát thải ra toàn vùng ĐBSCL, cũng như tất cả địa phương trên cả nước. Đồng thời, kết nối những nguồn lực thành một hệ thống, có cơ chế điều phối, dữ liệu thống nhất, tài chính xanh, sự tham gia của doanh nghiệp và thị trường cho sản phẩm giảm phát thải.

Từ dự án riêng lẻ đến một hệ thống chung

Theo bà Đinh Thị Kim Dung, Chánh Văn phòng về Quan hệ đối tác và điều phối dự ánViện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế (IRRI), trong giai đoạn 2024-2025, IRRI đã phối hợp với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng các đơn vị của Bộ xây dựng, cập nhật quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tổ chức này cũng tham gia 8 trong tổng số 11 mô hình thí điểm của Bộ tại 6 tỉnh, thành ĐBSCL.

Đã có kết quả bước đầu, nhưng các mô hình cũng đồng thời bộc lộ những điểm nghẽn khi chuyển sang quy mô lớn. Phản hồi IRRI nhận được từ địa phương cho thấy, nhiều nơi thiếu máy gieo sạ, thiết bị thu gom và xử lý rơm. Một số diện tích chưa phù hợp cho cơ giới hóa chính xác. Điều kiện ngập nước, mưa lớn, triều cường cũng khiến một số yêu cầu kỹ thuật khó áp dụng đồng nhất giữa các vùng. Với tín chỉ carbon, đường cơ sở (MRV) cần tính đến điều kiện từng hợp tác xã và yếu tố thời tiết để tránh xác định sai lượng phát thải được cắt giảm.

Điều này dẫn tới một thay đổi trong cách hỗ trợ. Thay vì tiếp tục tạo thêm những mô hình nhỏ, IRRI dự kiến phối hợp với các đơn vị của Bộ và 6 địa phương nâng cao năng lực cho khoảng 250 xã trong giai đoạn 2026-2027, đồng thời hỗ trợ hợp tác xã chuyển từ mô hình thí điểm sang vùng nguyên liệu tập trung.

Theo bà Dung, tín hiệu đáng chú ý là khu vực tư nhân bắt đầu chủ động tham gia. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp và An Giang, một số doanh nghiệp đã trực tiếp tìm đến IRRI sau khi thấy kết quả của các mô hình, đề nghị phối hợp với hợp tác xã để mở rộng vùng nguyên liệu lên quy mô 300-500 ha và cần hỗ trợ kỹ thuật cho quá trình này.

“Nguồn lực để mở rộng sản xuất không còn chỉ đến từ ngân sách”, bà Dung phân tích. Khi doanh nghiệp nhìn thấy khả năng hình thành vùng nguyên liệu, bài toán chuyển dần sang thiết lập tiêu chuẩn, dữ liệu và cơ chế để vốn tư nhân có thể đi cùng đầu tư công và hỗ trợ quốc tế.

Trên tinh thần ấy, IRRI đang tập trung phát triển là hệ thống số theo dõi mức độ tuân thủ quy trình canh tác. Dữ liệu được ghi nhận từ hộ nông dân và hợp tác xã, bao gồm bằng chứng về các thực hành trên đồng ruộng, qua đó xác định khâu nào đáp ứng yêu cầu và khâu nào còn thiếu. Thông tin này cũng có thể phản ánh những điểm nghẽn về hạ tầng, chẳng hạn khả năng quản lý nước tại từng khu vực.

IRRI đồng thời xây dựng bản đồ số, dự kiến tích hợp dữ liệu về đất, giống, nước, khí hậu, canh tác, mã số vùng trồng và các khuyến cáo thích ứng biến đổi khí hậu. Công cụ này được định hướng mở rộng tới 250 xã tại 6 địa phương thuộc vùng đề án. Tuy nhiên, bà Dung thừa nhận, nguồn lực của một tổ chức có giới hạn. Nếu mỗi đối tác tiếp tục xây dựng một hệ thống hoặc triển khai một phần việc riêng, nguồn lực có thể bị phân tán. IRRI vì vậy đề nghị Bộ giữ vai trò điều phối, tích hợp các nguồn lực và giải pháp của các tổ chức quốc tế để cùng thực hiện những mục tiêu chung.

Thêm trợ lực mới cho nông dân trồng lúa

Cùng với IRRI, FAO là một trong những đối tác lâu năm, đồng hành cùng nông nghiệp Việt Nam với các hoạt động từ quản lý sức khỏe cây trồng, đất, khuyến nông, hợp tác xã đến truy xuất nguồn gốc, tài chính xanh và MRV - hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm phát thải.

Ông Vinod Ahuja, Trưởng Đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam cho biết, hiện có nhiều đối tác cùng thu thập dữ liệu về phát thải, sản xuất lúa và dinh dưỡng đất. Vấn đề là cần một cách tiếp cận hài hòa để các dòng dữ liệu này có thể kết nối, thay vì tồn tại trong những hệ thống khác nhau. Nếu không, Việt Nam có thể sở hữu lượng dữ liệu thực địa lớn nhưng khó tổng hợp thành kết quả có độ tin cậy ở cấp quốc gia và phục vụ báo cáo quốc tế. FAO cam kết sẵn sàng làm việc với Bộ để tìm cách kết nối các bộ dữ liệu này.

Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật, FAO đang phối hợp Việt Nam xây dựng đề xuất huy động nguồn lực từ Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) để hỗ trợ chuyển đổi sang sản xuất lúa giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Dự kiến nguồn lực này là hơn 200 triệu USD, kéo dài trong vòng 5 năm và hướng tới giảm khoảng 500.000 tấn CO2 tương đương.

Đặc biệt, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức nông dân cùng các chủ thể khác trong chuỗi cũng được đưa vào khung đề án này, nhằm tạo điều kiện cho vốn tư nhân đi cùng nguồn lực công. Ông Ahuja đề xuất đưa sáng kiến này vào cơ chế điều phối chung của đề án 1 triệu ha lúa, thay vì quản lý như một dự án độc lập.

Kinh nghiệm này được Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) chia sẻ. Bà Roxanne Abdulali, Trưởng bộ phận Nông nghiệp - Thực phẩm, SNV Việt Nam bày tỏ, điều SNV quan tâm bậc nhất là phần giá trị cuối cùng nông dân nhận được khi tham gia các chương trình. Do đó, hệ thống theo dõi mà SNV từng hợp tác tại Australia đã đo cả biên lợi nhuận của các hộ sản xuất. Đây là cơ sở để đánh giá liệu giá bán cao hơn hoặc lợi ích từ sản xuất giảm phát thải có thực sự chuyển tới nông dân hay không.

SNV cũng đề nghị hệ thống MRV của đề án 1 triệu ha lúa giai đoạn tới nên được thiết kế theo nhiều cấp độ. Nếu mục tiêu là chứng nhận cho thị trường quốc tế, dữ liệu cần đủ chi tiết để truy xuất xuống cấp hộ. Mức độ minh bạch này càng trở nên quan trọng nếu Việt Nam muốn tiếp cận các phân khúc cao hơn của thị trường carbon.

Cửa ngỏ với kinh tế tuần hoàn

Một dòng hỗ trợ khác được ông Hoàng Thành, cán bộ dự án của Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam khuyến nghị, là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong sản xuất giảm phát thải. Theo đó, phía EU đã chấp thuận khoản viện trợ không hoàn lại khoảng 11,5 triệu euro và các bên đang hoàn thiện văn kiện để triển khai.

Dự án này đặt ra 2 mục tiêu. Một là rà soát, nhận diện rào cản chính sách và nâng cao năng lực cơ quan quản lý để hình thành môi trường thuận lợi hơn cho kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Hai là đưa các thực hành tuần hoàn vào sản xuất thông qua mô hình thí điểm, nâng cao năng lực và phát triển mô hình kinh doanh tại địa phương.

Trong chuỗi lúa gạo, dự kiến triển khai tại Cần Thơ, với các hoạt động được tính toán gắn trực tiếp với đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, như đánh giá giải pháp kinh tế tuần hoàn, xây dựng mô hình thí điểm tại cấp xã, hỗ trợ sản xuất phát thải thấp, đào tạo cán bộ và nông dân, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số, đồng thời phát triển mô hình kinh doanh để huy động thêm nguồn lực.

Theo ông Thành, dự án có thể hỗ trợ quản lý và tạo giá trị từ phụ phẩm, cải thiện sức khỏe đất, thử nghiệm MRV gắn với truy xuất nguồn gốc và số hóa dữ liệu, cũng như kết nối các mô hình kinh doanh tuần hoàn với tài chính và thị trường. Phía EU mong muốn quá trình phê duyệt được đẩy nhanh để dự án có thể triển khai từ năm 2027.

Cam kết cơ chế linh hoạt, cởi mở

Trước đề xuất của các tổ chức quốc tế, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng cách tiếp cận Đề án 1 triệu ha trong giai đoạn tới sẽ thay đổi theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn. Việc mở rộng đối tượng và địa bàn, vì thế, được dự báo sẽ kéo theo thay đổi trong cách tổ chức đề án. Theo Thứ trưởng, thủ tục đăng ký tham gia của một hộ dân hoặc địa phương còn tương đối rườm rà. Cách tiếp cận mới sẽ không còn đặt trọng tâm vào việc xác định ai "tham gia đề án", mà hướng tới áp dụng phương thức sản xuất mới trên diện rộng, để ai “cũng có thể làm được”.

Điều này đồng nghĩa với khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, hạ tầng thủy lợi, cơ cấu mùa vụ và các cấu phần sinh thái khác trở thành yếu tố quyết định cách áp dụng kỹ thuật. Thứ trưởng lấy ví dụ, không thể lấy quy trình đã áp dụng cho hơn 420.000 ha để áp nguyên cho 600.000 ha tiếp theo (theo mục tiêu đề án ban đầu), cũng như không thể sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải ở vùng ven biển Cà Mau giống An Giang. Bộ định hướng xây dựng các gói kỹ thuật theo vùng, tiểu vùng, từ đó hình thành hướng dẫn từ giống, canh tác đến chế biến và tiêu thụ. Đây cũng là cơ sở để nguồn lực hỗ trợ quốc tế đi vào những nhu cầu cụ thể, thay vì tiếp tục phân tán ở mô hình riêng lẻ.

Một yêu cầu khác được Thứ trưởng đặt ra là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin về sản xuất, tín chỉ carbon, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần có cơ chế chia sẻ, cập nhật thông tin thường xuyên, qua đó hạn chế tình trạng mỗi dự án xây dựng một hệ thống riêng. Đây cũng là nền tảng để các kết quả kỹ thuật, MRV và dữ liệu từ nhiều chương trình có thể sử dụng chung khi quy mô sản xuất được mở rộng.

Với nguồn lực quốc tế, Thứ trưởng đề nghị chuyển từ cách từng tổ chức thực hiện một phần việc sang phối hợp theo thế mạnh. Các chương trình đang hỗ trợ Việt Nam có thể khác nhau về mục tiêu và nguồn vốn, nhưng cần được tập hợp quanh những vấn đề chung như hoàn thiện gói kỹ thuật, dữ liệu, chuỗi giá trị, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh và thị trường.

Cách huy động tài chính cũng được định hướng mở. Thay vì phụ thuộc vào một nguồn vay chung, Trung ương sẽ sử dụng nguồn lực trong nước cho những nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Bộ. Địa phương có thể huy động ngân sách hoặc các nguồn vốn phù hợp khác. Với hạ tầng quy mô nhỏ phục vụ vùng sản xuất, Thứ trưởng cho biết định hướng là ưu tiên vốn đầu tư công, hạn chế sử dụng vốn vay.

Tuy nhiên, nguồn vốn hay tín chỉ carbon không được coi là đích đến cuối cùng. Theo lãnh đạoBộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi tín chỉ carbon, nhưng trước hết phải dùng kết quả giảm phát thải để chứng minh phương thức sản xuất có trách nhiệm. Nếu bán được tín chỉ và tạo thêm thu nhập cho nông dân thì đó là giá trị bổ sung.

Giá trị trực tiếp hơn phải đến từ hạt gạo. Thứ trưởng cho rằng cần xây dựng thương hiệu "gạo Việt Nam xanh", với khả năng tạo giá trị cao hơn sản phẩm thông thường. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu đối với các nguồn lực quốc tế. Hỗ trợ không dừng ở kỹ thuật giảm phát thải, mà phải kết nối được sản xuất với doanh nghiệp, tài chính và thị trường.

Cách tiếp cận mở của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận sự hướng ứng mạnh mẽ từ nhiều đối tác quốc tế đã và đang triển khai các gói hỗ trợ kỹ thuật cho đề án. IRRI, FAO, UNDP, EU, Australia, Canada, JICA, GIZ, SNV, Oxfam, IFAD… cùng hàng loạt đối tác quốc tế khác cam kết nguồn lực mạnh mẽ tại phiên họp.

Trong đó, gồm quy trình canh tác bền vững, triển khai MRV, truy xuất nguồn gốc, xây dựng chuỗi liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân, phát triển kinh tế tuần hoàn tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, tăng khả năng tiếp cận thị trường và giá trị của gạo chất lượng cao, giảm phát thải, nâng năng lực tiếp cận với nguồn tài chính xanh và tài chính carbon, xây dựng cơ sở dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, dùng chung.

Thứ trưởng thống nhất với các đối tác quốc tế về xây dựng cơ chế điều phối chung để các dự án quốc tế được chuẩn bị và triển khai hiệu quả nhất, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn để tạo ra ngành lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải cho Việt Nam.

Theo Bảo Thắng/Bộ Nông nghiệp và Môi trường

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ