🔍
Chuyên mục: Thời sự

Đẩy mạnh đối ngoại là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

1 giờ trước
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về công tác đối ngoại năm 2025 vừa qua và thời gian tới, đặc biệt là việc thực hiện 'sứ mệnh' mà Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng như Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung thông báo về kết quả Đại hội XIV của Đảng tới các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 27/1. Ảnh: Việt Đức/TTXVN

Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, đối ngoại cùng với quốc phòng – an ninh lần đầu tiên được xác định là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên”. Chủ trương này đặt ra “sứ mệnh” như thế nào cho đối ngoại – ngoại giao Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thưa Bộ trưởng?

Việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng lần đầu tiên khẳng định chính thức quan điểm chỉ đạo này trong văn kiện Đại hội vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn đối với toàn ngành đối ngoại, ngoại giao. Điều này cũng khẳng định bước chuyển mới về tư duy chiến lược của Đảng ta. Nhìn lại lịch sử cách mạng của đất nước, ngay từ những ngày đầu nước nhà được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”. Vì vậy, khẳng định đối ngoại, hội nhập quốc tế là “trọng yếu, thường xuyên” là sự phản ánh sinh động Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

“Trọng yếu, thường xuyên” được hiểu là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, liên quan đến sự tồn vong, an nguy, thịnh suy của đất nước, gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, được quan tâm và thực hiện liên tục trong mọi giai đoạn Cách mạng, và nay là góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Với nhận thức đó, chúng tôi xác định rõ, đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế không chỉ là công việc của các lực lượng làm công tác đối ngoại, càng không phải của riêng Bộ Ngoại giao, mà là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị.

Sứ mệnh vẻ vang đó và yêu cầu cấp bách của đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi đối ngoại tiếp tục được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia, vào cuộc chủ động, tích cực của tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp. Trong đó, Bộ Ngoại giao đóng vai trò nòng cốt, điều phối, tham mưu cho Đảng, Nhà nước.

Để đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, thực hiện tốt nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại và hội nhập quốc tế, toàn ngành đối ngoại, ngoại giao sẽ tập trung vào 3 định hướng lớn sau:

Một là, phối hợp chặt chẽ với Quốc phòng, An ninh và các ban, bộ, ngành, địa phương cả nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; bảo vệ an ninh chế độ, bảo vệ Nhân dân và các thành quả của công cuộc Đổi mới.

Hai là, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài, đặc biệt là đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, trọng tâm là ngoại giao công nghệ để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ sau Đại hội XIV của Đảng, hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đề ra cho các cột mốc lịch sử 2030 và 2045, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ba là, góp phần nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng, của đất nước, nâng cao vai trò của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại, phấn đấu để nước ta được “sánh vai các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong mỏi.

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới tạo cơ sở phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, trọng yếu và thường xuyên của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Xin Bộ trưởng chia sẻ công tác đối ngoại – ngoại giao của Việt Nam thời gian tới sẽ có những giải pháp, cách làm đột phá gì để triển khai hiệu quả tầm nhìn, định hướng của Nghị quyết 59-NQ/TW? Trong đó, định hướng xây dựng ngành Ngoại giao “toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp” sẽ được phát triển ở những khía cạnh nào của ngành Ngoại giao?

Đại hội XIV xác định đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, tức là coi trọng và nâng tầm hội nhập quốc tế, tiếp tục xem hội nhập quốc tế không chỉ là động lực phát triển quan trọng mà là một trong những phương thức hàng đầu để thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước. Theo đó, trong thời gian tới, công tác hội nhập quốc tế sẽ cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá như sau:

Thứ nhất, nâng cao tư duy, nhận thức và hành động, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tư duy về hội nhập quốc tế chuyển mạnh theo hướng từ “tiếp nhận sang đóng góp”, từ “hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ”, từ “vị thế một quốc gia đi sau, hội nhập vào thế giới sang một quốc gia tiên phong, đi đầu vào những lĩnh vực mới”. Tư duy mới này đã và đang được cụ thể hóa, đưa vào triển khai tích cực, mạnh mẽ trong thực tế, trong đó trọng tâm là triển khai hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết 59.

Thứ hai, để đáp ứng các yêu cầu cao về phát triển đất nước trong giai đoạn tới, vừa qua chúng tôi đã xây dựng và ban hành các cơ chế đặc thù nhằm triển khai đồng bộ, hiệu quả hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực. Cụ thể, tháng 12 vừa qua Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 250/2025/QH15 về một số cơ chế đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, là bước đột phá giúp tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế và nguồn lực đối với hội nhập quốc tế. Hiện nay, Bộ Ngoại giao cùng với các bộ, ngành liên quan đang gấp rút hoàn thiện để trình, ban hành các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn chi tiết triển khai Nghị quyết này ngay trong quý I/2026. Những quy định mới này sẽ cho phép triển khai công tác hội nhập quốc tế có hiệu quả cả ở trong và ngoài nước, đặc biệt là xây dựng và huy động nhân lực chất lượng cao về hội nhập quốc tế.

Thứ ba, chúng tôi xác định cần phát huy sức mạnh ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nâng cao chất lượng “tác chiến hiệp đồng”, tinh thần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, nhịp nhàng trong toàn bộ hệ thống chính trị và giữa Trung ương với địa phương, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu liên thông, tạo cục diện hội nhập thống nhất, đồng bộ vì mục tiêu chung.

Thứ tư, để hội nhập hiệu quả trên các lĩnh vực, chúng tôi cũng xác định phải đẩy mạnh “văn hóa thực thi”, “nói đi đôi với làm, làm đến cùng” như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, định hướng. Trong hội nhập quốc tế, điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi tư duy sang hướng ưu tiên tính thực chất, khả thi trong ký kết và thực thi các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Cùng với đó, các cam kết, thỏa thuận quốc tế phải đi đôi với hoàn thiện thể chế, chính sách trong nước.

Đối với Bộ Ngoại giao, lực lượng chủ công về đối ngoại và hội nhập quốc tế, chúng tôi xác định nhiệm vụ có tính nền tảng là xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp với nhiều nhóm biện pháp lớn, trong đó có:

Một là, quán triệt đường lối của Đảng, Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, luôn coi trọng và làm tốt công tác xây dựng Đảng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, tiếp tục hiện đại hóa phương pháp tổ chức, triển khai công việc cũng như phương thức quản lý, điều hành, giám sát thông qua việc đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng các bộ cơ sở dữ liệu.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại, hội tụ cả đức, sức và tài, nêu cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ba là, phát triển toàn diện các trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực ngoại giao chính trị với đối ngoại quốc phòng, an ninh; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, lấy ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển làm trọng tâm, lấy doanh nghiệp và người dân là chủ thể, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao văn hóa và thông tin đối ngoại.

Năm 2025 là năm sôi động và thành công của đối ngoại Việt Nam với nhiều hoạt động đối ngoại cấp cao, nâng cấp quan hệ với nhiều quốc gia đối tác, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, các sự kiện đa phương quan trọng. Xin Bộ trưởng cho biết về những kết quả nổi bật trong công tác đối ngoại trong năm 2025? Đâu là những điểm nhấn chiến lược trong đối ngoại Việt Nam 2025?

Nhìn lại có thể thấy môi trường quốc tế năm 2025 có đặc trưng là biến động, bất ổn, xung đột nổ ra ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực. Thậm chí có thể nói năm 2025 là năm biến động nhất trong nhiều năm trở lại đây như văn kiện Đại hội XIV đã nhận định “thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại”.

Soi chiếu vào bối cảnh đó, có thể thấy dấu ấn nổi bật của đối ngoại năm 2025 là ta đã tranh thủ được thời cơ, hóa giải được thách thức, góp phần tạo cục diện đối ngoại mới cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Có thể nói đối ngoại trong năm 2025 đã phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh “giữ vững, duy trì môi trường hòa bình, ổn định; phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững; nâng cao đời sống của nhân dân, tất cả vì nhân dân”.

Nhìn cụ thể hơn có thể thấy các kết quả nổi bật gồm:

Trước hết, việc nâng tầm, nâng cấp quan hệ, mở rộng hợp tác với các đối tác. Trong năm, các hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, nhất là của Lãnh đạo chủ chốt, tạo khuôn khổ và tầm nhìn định hướng cho quan hệ. Chúng ta đã nâng cấp quan hệ với 17 đối tác, đưa tổng số đối tác có quan hệ từ Đối tác toàn diện trở lên thành 42 nước. Điểm nhấn là tính thực chất và hiệu quả, thể hiện qua việc ký kết gần 350 thỏa thuận hợp tác, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2024. Chúng ta cũng đã củng cố quan hệ, mở rộng hợp tác với các chính đảng, tiếp tục coi trọng và phát triển đối ngoại nhân dân dưới nhiều hình thức.

Thứ hai, trên bình diện đa phương, trong lúc các thể chế đa phương gặp khó khăn, Việt Nam tiếp tục thể hiện trách nhiệm và cam kết của mình. Chúng ta thể hiện mạnh mẽ sự ủng hộ đối với hợp tác đa phương, đã tham gia và đóng góp có trách nhiệm, góp phần xây dựng các định hướng hoạt động và các quy định, chuẩn mực tại các thể chế đa phương. Cụ thể như sự tham gia tích cực của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trong hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ cứu nạn, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực; tham gia nhiều cơ chế điều hành tại Hội đồng Nhân quyền, 6 trong 7 cơ chế của UNESCO. Đồng thời chúng ta tổ chức thành công Diễn đàn Tương lai ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh P4G, Lễ mở ký Công ước về chống tội phạm mạng, qua đó khẳng định vai trò, uy tín và năng lực của Việt Nam.

Thứ ba, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 8% của đất nước, ngoại giao kinh tế phát huy vai trò tiên phong, nắm bắt xu hướng vận động của kinh tế thế giới, các lĩnh vực mới để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Các hoạt động ngoại giao kinh tế lồng ghép hiệu quả vào đối ngoại cấp cao, đạt số lượng kỷ lục về cam kết thỏa thuận, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, kết nối chiến lược, đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu. Ngoại giao khoa học-công nghệ trở thành một mũi nhọn, tập trung vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, góp phần hiện thực hóa 11 lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Thứ tư, đối ngoại cũng góp phần phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam. Ngoại giao văn hóa triển khai bài bản, tổ chức thành công Đại lễ Vesak, vận động 7 danh hiệu mới, đưa tổng số danh hiệu UNESCO của Việt Nam lên 77. Công tác thông tin đối ngoại chủ động, không chỉ quảng bá hình ảnh quốc gia mà còn bảo vệ nền tảng tư tưởng, lợi ích đất nước trong môi trường thông tin phức tạp. Công tác bảo hộ công dân được triển khai kịp thời tại các điểm nóng, đưa hàng nghìn công dân về nước. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã thành công trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc với thành quả rõ nét chính là nguồn kiều hối gửi về nước đạt mức kỷ lục, trở thành nguồn lực quan trọng đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đối ngoại nhân dân đã phát huy vai trò cầu nối, tạo nền tảng cho các mối quan hệ đối ngoại của đất nước.

Thứ năm, cùng với việc triển khai các nhiệm vụ đối ngoại, công tác xây dựng ngành được thực hiện nghiêm túc. Ngành Ngoại giao đã sắp xếp bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả; giảm 42,5% số lượng đầu mối, đồng thời tiếp nhận nhiệm vụ đối ngoại Đảng và một phần chức năng, nhiệm vụ đối ngoại Quốc hội. Nhiều văn bản pháp lý quan trọng, tạo nền tảng thể chế cho đối ngoại như Luật Điều ước quốc tế sửa đổi, Luật Quốc tịch sửa đổi, Nghị quyết 250 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, cơ chế phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, cùng sự gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, công an cùng các ban, bộ, ngành và địa phương ngày càng đồng bộ, giúp xây dựng chính sách nhanh hơn, chủ động hơn. Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu đóng góp vào việc nắm bắt tình hình, nhận diện thời cơ, thách thức, làm cơ sở để đề xuất các chủ trương, chính sách kịp thời, hiệu quả với hàng nghìn báo cáo, đề án phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.

Xin Bộ trưởng cho biết trong năm qua công tác ngoại giao văn hóa đã hỗ trợ như thế nào cho mục tiêu nâng cao “sức mạnh mềm” và vị thế quốc gia? Vừa qua Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định văn hóa là nền tảng, động lực cho phát triển bền vững đất nước, gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, đối ngoại trở thành sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới. Vậy thời gian tới, công tác ngoại giao văn hóa sẽ được triển khai như thế nào để tiếp tục truyền tải văn hóa Việt Nam với thế giới, đồng thời học tập kinh nghiệm bạn bè quốc tế để đóng góp vào mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa?

Ngoại giao Việt Nam luôn thể hiện chiều sâu văn hóa và bản sắc dân tộc. Thậm chí trước khi nước nhà giành độc lập, từ năm 1943, Đảng đã có Đề cương văn hóa Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, cũng là danh nhân văn hóa thế giới.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ định hướng lớn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam là một trong các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị nhằm góp phần đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.

Nhìn lại công tác ngoại giao văn hóa trong năm qua, có thể thấy chúng ta đã đạt được nhiều bước tiến về chất. Các hoạt động đối ngoại cấp cao đều gắn với nội hàm ngoại giao văn hóa. Riêng năm 2025, ta đã vận động thành công UNESCO công nhận thêm 7 danh hiệu mới, đưa tổng số danh hiệu của Việt Nam được UNESCO công nhận lên 77, vượt xa mục tiêu đã đề ra là 60 danh hiệu vào năm 2030. Một trong những dấu ấn đặc biệt là Việt Nam tiên phong đề xuất sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững” với sự tham gia của 163 quốc gia, được UNESCO thông qua để trình lên Liên hợp quốc.

Thời gian tới, để góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, công tác ngoại giao văn hóa sẽ tập trung vào một số định hướng lớn và ưu tiên sau:

Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao trong nhận thức và hành động về vai trò ngoại giao văn hóa, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm là làm cho mỗi hoạt động đối ngoại không chỉ có nội dung văn hóa sâu sắc, mà còn trở thành một hoạt động văn hóa; chú trọng công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách, đề xuất sáng kiến quốc tế trong lĩnh vực ngoại giao văn hóa.

Thứ hai, đổi mới nội dung, hình thức, có các sáng kiến đột phá để triển khai công tác ngoại giao văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, tạo dấu ấn, lan tỏa. Đặc biệt, tiếp tục lồng ghép ngoại giao văn hóa trong các hoạt động đối ngoại cấp cao; hỗ trợ các địa phương phát triển kinh tế di sản; gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa ngoại giao văn hóa với công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ ba, đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ động hiệu quả tại các diễn đàn đa phương và song phương về văn hóa, góp phần đưa Việt Nam ra thế giới nhiều hơn và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm nền văn hóa, văn minh dân tộc.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông gắn với chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát huy hiệu quả các nguồn lực cho ngoại giao văn hóa. Xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam - một quốc gia giàu bản sắc văn hóa, nhân văn, có trách nhiệm, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại.

Thứ năm, tăng cường phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công tác ngoại giao văn hóa ở cả trung ương và địa phương, nhất là tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Tăng cường phổ biến kiến thức cơ bản về văn hóa, ngoại giao văn hóa với người Việt Nam đi lao động, học tập, công tác ở nước ngoài… góp phần xây dựng, quảng bá tích cực về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Các thông tin chính thống, đầy đủ và cập nhật về Đại hội được đăng tải tại trang thông tin điện tử Đại hội Đảng: https://daihoidang.vn

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ