Đắk Lắk mở không gian phát triển mới từ rừng
Tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 743.171 ha đất có rừng, hệ sinh thái trải rộng từ rừng khộp, rừng thường xanh trên cao nguyên đến rừng núi thấp và vùng duyên hải, trong đó rừng tự nhiên hơn 530.868 ha, rừng trồng hơn 212.303 ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,06%.
Sau nhiều năm tập trung bảo vệ rừng, Đắk Lắk đang mở một cách tiếp cận mới, đưa rừng trở thành nguồn lực cho phát triển xanh. Từ dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái đến tín chỉ carbon, những cánh rừng không chỉ giữ nước, gìn giữ đa dạng sinh học mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế nếu được quản trị hiệu quả.
Một "kho dự trữ xanh" rộng hơn 743.000 ha
Tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 743.171 ha đất có rừng, hệ sinh thái trải rộng từ rừng khộp, rừng thường xanh trên cao nguyên đến rừng núi thấp và vùng duyên hải, trong đó rừng tự nhiên hơn 530.868 ha, rừng trồng hơn 212.303 ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,06%. Phân theo mục đích sử dụng, có hơn 225.454 ha rừng đặc dụng, gần 162.250 ha rừng phòng hộ và gần 295.971 ha rừng sản xuất.
Khung cảnh rừng nguyên sinh Vườn quốc gia Ea Sô, chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô từ ngày 28/7/2026. Ảnh: TTXVN phát
Việc thành lập Vườn quốc gia (VQG) Ea Sô từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô vào cuối tháng 7 tiếp tục mở rộng không gian bảo tồn cấp quốc gia của tỉnh. VQG Ea Sô cùng với Yok Đôn và Chư Yang Sin tạo thành hệ thống những vùng rừng đặc dụng có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học, điều tiết nguồn nước, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh.
Đắk Lắk đang sở hữu một hệ sinh thái có tính chuyển tiếp hiếm có, gồm rừng nhiệt đới, rừng thường xanh, rừng khộp, rừng lá kim, thảo nguyên, sông hồ và cả những cánh rừng phía đông tiếp giáp vùng duyên hải.
Đây cũng là địa bàn phân bố của nhiều loài thực vật quý như cẩm lai, trắc, giáng hương, gõ đỏ, thông năm lá, thông lá dẹt, bách xanh, pơ mu, trầm hương, kim giao, thông nước; cùng nhiều loài động vật nguy cấp như voi, bò tót và các loài thú lớn.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Quốc Hưng thông tin "Về đa dạng sịnh học, toàn tỉnh hiện có 104 loài động vật và 97 loài thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Giá trị của rừng còn nằm trong các nhóm tài nguyên ngoài gỗ như nấm, địa y, rêu, tre, lồ ô, song mây, có tiềm năng về dược liệu, thực phẩm và vật liệu sinh học".
Ở phía nam cao nguyên, VQG Chư Yang Sin là một lát cắt điển hình của sự đa dạng ấy. Trong cùng một không gian có rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng thông ba lá, rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim, rừng lùn trên núi cao, rừng tre lồ ô cùng hệ thống khe, suối, thác ghềnh phân bố từ độ cao khoảng 500 m lên đến 1.500 m.
Đáng chú ý, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô tỉnh Đắk Lắk vừa được chuyển hạng thành VQG Ea Sô, có tổng diện tích tự nhiên 26.959,01 ha. Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 21.676,92 ha, chiếm hơn 80% diện tích; phân khu phục hồi sinh thái rộng 4.118,6 ha và phân khu dịch vụ, hành chính rộng 1.163,49 ha.
Vùng đệm VQG Ea Sô rộng hơn 18.229 ha, gồm 18 thôn, buôn thuộc năm xã của hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai. Quy mô này cho thấy việc nâng hạng không chỉ liên quan đến quản lý một khu rừng mà còn đặt ra yêu cầu phối hợp liên tỉnh, gắn bảo tồn với sinh kế của cộng đồng sống dọc vành đai rừng.
Phó giám đốc VQG Ea Sô Nguyễn Quốc Hùng cho biết VQG Ea Sô được giao nhiệm vụ bảo tồn các hệ sinh thái rừng đặc trưng, các loài động, thực vật quý, hiếm, bảo vệ nguyên vẹn rừng tự nhiên, phục hồi sinh thái và nâng cao độ che phủ. Khu rừng còn giữ vai trò phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nước, giảm xói mòn, lũ lụt, cung cấp nguồn nước cho sản xuất và đời sống vùng hạ du.
"Việc nâng hạng tạo điều kiện để Ea Sô có vị thế pháp lý và nguồn lực tốt hơn cho nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, giám sát đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, quan trọng hơn là tạo sinh kế để cộng đồng cùng tham gia giữ rừng", ông Hùng chỉ rõ.
Lực lượng chuyên trách cùng đồng bào sinh sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên cùng tham gia bảo vệ rừng. Ảnh: TTXVN phát
Thực tế cho thấy bảo tồn tại Đắk Lắk đang chuyển sang kết hợp khoa học, công nghệ và sự tham gia của cộng đồng. Bảo tồn voi đang triển khai nhiều giải pháp mới như nghiên cứu số lượng quần thể thông qua phân tích mẫu phân và cấu trúc di truyền; hỗ trợ xây dựng Đề án đeo vòng cổ định vị GPS cho voi hoang dã; thành lập các nhóm cộng đồng giảm xung đột giữa voi và người, đồng thời ứng dụng phần mềm SMART cùng hệ thống máy bẫy ảnh trong tuần tra, giám sát.
Tại Chư Yang Sin, các dự án đang tập trung tăng cường thực thi pháp luật để bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, đồng thời hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ dân tộc thiểu số. Ở Ea Sô, hoạt động bảo tồn hướng vào nghiên cứu khả năng thích nghi của rùa Trung Bộ sau tái thả, bảo tồn và phục hồi bò tót, bò rừng. Điểm chung của các dự án là không tách việc giữ loài, giữ sinh cảnh khỏi đời sống cộng đồng vùng đệm.
Đưa giá trị rừng vào nền kinh tế
Một cánh rừng chỉ được bảo vệ lâu dài khi giá trị sinh thái của nó được nhận diện, lượng hóa và chia sẻ hợp lý với những người trực tiếp giữ rừng.Năm 2025, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk thu hơn 109,5 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Từ nguồn này, hơn 96,7 tỷ đồng được chi trả cho 308 chủ rừng và UBND cấp xã để quản lý, bảo vệ hơn 268.145 ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Quốc Hưng cho biết "nguồn tiền trên chưa thể giải quyết hết khó khăn của ngành lâm nghiệp, nhưng đã làm thay đổi quan niệm bảo vệ rừng là nhiệm vụ hành chính được thực hiện bằng ngân sách nhà nước. Khi nước sạch, thủy điện, cảnh quan và khả năng điều hòa khí hậu của rừng được định giá, người giữ rừng có thêm nguồn lực để tuần tra, ngăn chặn xâm hại và cải thiện đời sống".
Dư địa tiếp theo là du lịch sinh thái. Toàn tỉnh đã có bảy chủ rừng được phê duyệt đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, gồm VQG Chư Yang Sin, VQG Ea Sô; khu rừng lịch sử, văn hóa, môi trường Hồ Lắk; rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng và các ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa, Đèo Cả, Đồng Xuân. Các đề án có thể được thực hiện trực tiếp, liên kết với doanh nghiệp hoặc cho thuê môi trường rừng theo quy định. Mọi hoạt động phải tuân thủ sức chịu tải của hệ sinh thái, bảo đảm không chia cắt sinh cảnh, không gây nhiễu đời sống động vật hoang dã và phải dành một phần lợi ích cho cộng đồng vùng đệm.
Đối với gần 296.000 ha rừng sản xuất, hướng đi được xác định là chuyển dần từ khai thác gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang rừng gỗ lớn, quản lý bền vững và chế biến sâu.
Lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đăk Lắk được tập huấn sử dụng thiết bọ bay không người lái vào hoạt động bảo vệ rừng. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
Tỉnh đang triển khai kế hoạch phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản đến năm 2030. Trong đó, 15 xã có diện tích rừng sản xuất và tiềm năng lâm nghiệp lớn như: Ea Rốk, Yang Mao, Krông Á, Ea H’leo, Phú Mỡ... có thể trở thành những vùng nguyên liệu tập trung để thu hút doanh nghiệp trồng rừng, chế biến gỗ, hình thành chuỗi sản xuất có chứng chỉ và giảm chi phí vận chuyển.
Theo Cục Lâm nghiệp - Kiểm lâm, trong giai đoạn 2021–2025, Đắk Lắk đóng góp mức giảm phát thải hơn 2 triệu tấn CO₂ trên diện tích 537.319,9 ha rừng. Kết quả này có thể mang lại nguồn tài chính khoảng 251,95–377,92 tỷ đồng khi thực hiện cơ chế chi trả giảm phát thải.
Lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk được tập huấn sử dụng thiết bọ bay không người lái vào hoạt động bảo vệ rừng. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
Đối với rừng trồng, việc ghi nhận khả năng hấp thụ CO₂ có thể tạo động lực kinh tế trực tiếp để chủ rừng kéo dài chu kỳ khai thác, chuyển sang gỗ lớn và nâng giá trị trên một đơn vị diện tích.
Đắk Lắk hiện có hơn 245.640 ha rừng trồng nếu tính cả diện tích đã trồng nhưng chưa đủ tiêu chí thành rừng, cùng hơn 310.386 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng. Đây là không gian lớn để phục hồi đất lâm nghiệp, tăng trữ lượng sinh khối và khả năng hấp thụ carbon.
Lực lượng chuyên trách cùng đồng bào sinh sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên cùng tham gia bảo vệ rừng. Ảnh: TTXVN phát
Tuy nhiên, sức ép đối với rừng cũng chưa giảm. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm và tự ý chuyển đổi đất lâm nghiệp vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi thuộc M’Drắk, Ea Súp, Cư M’gar, Krông Bông, Ea Kar trước đây.
Lợi nhuận cao từ cà phê, cao su, mắc ca, sầu riêng, bơ tiếp tục tạo áp lực chuyển đổi đất rừng sang cây công nghiệp và cây ăn quả.Bài toán của Đắk Lắk vì thế không đơn thuần là mở rộng diện tích rừng hay nâng tỷ lệ che phủ. Điều quan trọng hơn là nâng chất lượng rừng tự nhiên, phục hồi những sinh cảnh đã suy thoái, quản lý chặt đất lâm nghiệp và tạo ra sinh kế hợp pháp có giá trị cao hơn hành vi xâm lấn rừng.
Voi được nuôi trong khu vực Vườn quốc gia Ea Sô, chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô từ ngày 28/7/2026. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
VQG Ea Sô ra đời là một bước tiến quan trọng, nhưng cũng mở đầu cho phần việc khó hơn: bố trí nguồn lực, kiện toàn bộ máy, tổ chức quản trị liên vùng và xử lý hài hòa quan hệ giữa bảo tồn với phát triển.
Tin liên quan
Giữ màu xanh cho những cánh rừng đặc dụng Đèo Cả Phát triển du lịch sinh thái gắn với giữ rừng và văn hóa bản địa ở Phong Quang Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên