Đại sứ Dương Chính Chức: Ngoại giao mở thị trường, nguồn vốn, công nghệ, tri thức, niềm tin để GDP tăng trưởng

Đại sứ Việt Nam tại Angola Dương Chính Chức cho rằng, mỗi Cơ quan đại diện cần trở thành một "điểm kết nối phát triển", nơi quy tụ thông tin, cơ hội, đối tác và các nguồn lực quốc tế phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của đất nước.
Chuyển mạnh từ mô hình "hỗ trợ phát triển" sang mô hình "cùng phát triển"
Năm 2026 đánh dấu nhiều cơ hội mới trong quan hệ Việt Nam-Angola. Đại sứ đánh giá thế nào về thực trạng quan hệ song phương hiện nay? Theo Đại sứ, đâu là những lĩnh vực hợp tác còn nhiều dư địa để hai nước tiếp tục khai thác trong thời gian tới?
Điều quý nhất trong quan hệ Việt Nam - Angola không chỉ là chúng ta có một lịch sử hữu nghị đặc biệt, mà là lịch sử ấy đang tiếp tục tạo ra những cơ hội phát triển mới cho cả hai nước. Tôi cho rằng, đây là điểm nổi bật nhất của quan hệ Việt Nam - Angola trong giai đoạn hiện nay.
Quan hệ giữa hai nước được xây dựng từ sự đồng cảm trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, được vun đắp bằng sự tin cậy chính trị trong nhiều thập kỷ và ngày nay đang đứng trước yêu cầu mới: chuyển hóa nền tảng chính trị thành những kết quả hợp tác cụ thể về kinh tế, khoa học-công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Đây cũng là tinh thần rất phù hợp với quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc đối ngoại phải góp phần mở rộng không gian phát triển của đất nước, đưa các nguồn lực bên ngoài phục vụ trực tiếp cho công cuộc phát triển.


Hiện đang là thời điểm có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy bước chuyển đó.
Thứ nhất, hai nước đều bước vào giai đoạn phát triển mới. Việt Nam đang quyết tâm thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và 2045, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng. Angola cũng đang triển khai mạnh Chương trình Phát triển quốc gia giai đoạn 2023-2027, ưu tiên đa dạng hóa nền kinh tế, giảm phụ thuộc vào dầu mỏ, phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, hạ tầng, năng lượng và kinh tế số. Sự tương đồng về định hướng phát triển tạo ra cơ sở rất thuận lợi để hai nước mở rộng hợp tác.
Thứ hai, vai trò của Angola tại châu Phi ngày càng nổi bật. Angola không chỉ là nền kinh tế lớn của khu vực miền Nam châu Phi mà còn giữ vai trò quan trọng trong Liên minh châu Phi (AU), SADC, ECCAS và tham gia Khu vực thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA). Điều đó có nghĩa là hợp tác với Angola không chỉ dừng ở quan hệ song phương, mà còn mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận một thị trường châu Phi rộng lớn với hơn 1,4 tỷ dân. Trong bối cảnh Việt Nam đang đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và chuỗi cung ứng, đây là lợi thế có ý nghĩa chiến lược.

Thứ ba, điều tôi cảm nhận rất rõ trong quá trình công tác tại Angola là phía bạn ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm phát triển của Việt Nam. Trong các cuộc trao đổi với các bộ, ngành Angola, từ Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đến các cơ quan nghiên cứu, câu hỏi mà chúng tôi thường nhận được không phải là Việt Nam có thể hỗ trợ gì, mà là Việt Nam đã làm như thế nào để từ một nước thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới? Làm thế nào để phát triển khu vực kinh tế tư nhân? Làm thế nào để thúc đẩy chuyển đổi số với nguồn lực không quá lớn. Điều đó cho thấy, Việt Nam ngày càng được nhìn nhận như một đối tác chia sẻ kinh nghiệm phát triển, chứ không chỉ là một người bạn truyền thống.
Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan, quan hệ kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và với quan hệ chính trị rất tốt đẹp giữa hai nước. Kim ngạch thương mại song phương còn ở mức khiêm tốn; đầu tư hai chiều chưa nhiều; doanh nghiệp hai nước còn thiếu thông tin về thị trường của nhau; chi phí logistics và thanh toán quốc tế vẫn là những rào cản cần tiếp tục tháo gỡ. Đây vừa là thách thức, vừa là dư địa để hai nước cùng hành động trong thời gian tới.



Theo tôi, nông - lâm nghiệp sẽ là lĩnh vực có khả năng tạo ra bước đột phá. Angola có hàng chục triệu hecta đất nông nghiệp có thể khai thác nhưng mỗi năm vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, trong đó có gạo. Trong khi đó, Việt Nam có kinh nghiệm về giống, thủy lợi, cơ giới hóa, tổ chức sản xuất và xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp. Thời gian qua, Đại sứ quán đã phối hợp với bộ phụ trách nông nghiệp, lâm nghiệp hai nước thúc đẩy chương trình hợp tác phát triển lúa nước tại Angola, đồng thời kết nối các viện nghiên cứu và chuyên gia hai bên, trước mắt sẽ qua các khuôn khổ của hợp tác Nam-Nam. Tôi kỳ vọng, đây sẽ không chỉ là một dự án nông nghiệp, mà có thể trở thành biểu tượng mới của hợp tác Việt Nam - Angola trong giai đoạn phát triển mới.
Một lĩnh vực khác còn rất nhiều dư địa là khoa học-công nghệ và chuyển đổi số. Angola đang đầu tư mạnh vào hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, hiện đại hóa quản trị nhà nước và phát triển nguồn nhân lực số. Việt Nam có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng chính phủ số, kinh tế số và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển. Nếu biết kết nối đúng đối tác và lựa chọn đúng dự án, đây sẽ là lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao cho quan hệ hai nước trong nhiều năm tới. FPT, Viettel…sẽ có thể là những ngọn hải đăng Việt Nam tại Angola trong lĩnh vực này.


Bên cạnh đó, hợp tác về năng lượng, viễn thông, giáo dục nghề nghiệp, y tế, khai khoáng và logistics cũng rất triển vọng. Đặc biệt, Hành lang Lobito đang được đầu tư mạnh sẽ góp phần nâng cao năng lực kết nối của Angola với khu vực và quốc tế, mở ra thêm cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp Việt Nam.
Theo tôi, trong giai đoạn mới, điều quan trọng không phải là mở rộng hợp tác trên thật nhiều lĩnh vực, mà là lựa chọn đúng những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và lợi ích lâu dài cho cả hai bên. Quan hệ chính trị là nền tảng; hợp tác phát triển mới là thước đo sức sống của quan hệ.
Tôi tin rằng, với sự quan tâm của lãnh đạo hai nước, nền tảng hữu nghị đặc biệt được nhiều thế hệ vun đắp và quyết tâm đổi mới tư duy hợp tác của cả Việt Nam và Angola, quan hệ song phương đang có cơ hội bước sang một giai đoạn phát triển mới: Từ hữu nghị truyền thống đến đối tác cùng phát triển; từ chia sẻ kinh nghiệm đến cùng tạo ra giá trị; từ những tiềm năng sẵn có thành những kết quả có thể đo đếm được bằng các dự án, dòng đầu tư và lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Quan hệ kinh tế quyết định sức sống lâu dài
Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động, hai nước cần làm gì để tiếp tục củng cố lòng tin chính trị và nâng tầm quan hệ hợp tác thực chất, hiệu quả hơn, thưa Đại sứ?
Lòng tin chính trị không được duy trì chỉ bằng những tuyên bố hữu nghị, mà phải được bồi đắp liên tục bằng những lợi ích chung và những kết quả hợp tác cụ thể. Đây là yêu cầu quan trọng nhất đối với quan hệ Việt Nam - Angola trong giai đoạn hiện nay.
Thế giới đang chứng kiến những biến động sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp; xung đột, bất ổn, chủ nghĩa bảo hộ, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và an ninh năng lượng tiếp tục đặt ra nhiều thách thức đối với các nước đang phát triển. Trong bối cảnh đó, những mối quan hệ được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới phát triển bền vững càng trở nên có giá trị.
Việt Nam và Angola có một lợi thế mà không phải cặp quan hệ song phương nào cũng có được. Đó là lịch sử đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Hai nước luôn duy trì sự tin cậy chính trị cao, thường xuyên ủng hộ nhau tại Liên hợp quốc và các diễn đàn đa phương, đồng thời cùng chia sẻ nhiều quan điểm về việc tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và đề cao chủ nghĩa đa phương.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, giữ gìn lòng tin chính trị thôi là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải biến lòng tin ấy thành động lực phát triển. Đây cũng là tinh thần nhất quán trong đường lối đối ngoại của Việt Nam thời gian qua: đối ngoại phải phục vụ phát triển, mở rộng không gian phát triển và huy động các nguồn lực bên ngoài cho đất nước.
Để làm được điều đó, trước hết hai nước cần tiếp tục duy trì thường xuyên các hoạt động trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao. Trong năm 2026, quan hệ hai nước đang có nhiều tín hiệu tích cực với việc hai bên tích cực trao đổi các đoàn công tác và thúc đẩy nhiều chương trình hợp tác mới. Những cuộc tiếp xúc như vậy không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn tạo động lực để các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước chủ động triển khai các chương trình hợp tác cụ thể.
Tôi cũng cho rằng, các cơ chế hợp tác hiện có cần được vận hành thực chất hơn. Các kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ, Tham vấn chính trị, hoặc các nhóm công tác chuyên ngành không nhưng không chỉ nên họp định kỳ đúng hạn mà còn không chỉ dừng ở việc rà soát những nội dung đã làm, mà cần trở thành nơi hai bên cùng xác định những dự án ưu tiên, tháo gỡ các vướng mắc và theo dõi việc triển khai đến cùng. Gía trị của mỗi cơ chế hợp tác không nằm ở số lượng cuộc họp, mà ở số lượng vấn đề được giải quyết sau mỗi cuộc họp.
Một điểm rất đáng chú ý là Angola đang nổi lên như một trong những quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng tại châu Phi. Không chỉ từng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Liên minh châu Phi, Angola hiện còn tham gia tích cực vào các nỗ lực hòa giải và thúc đẩy ổn định tại khu vực Trung Phi và miền Nam châu Phi. Điều này mở ra nhiều cơ hội để Việt Nam tăng cường trao đổi chính sách, chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp chặt chẽ hơn với Angola tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam hoàn toàn có thể là cầu nối hiệu quả cho quan hệ, hợp tác ASEAN-AU.
Tôi cho rằng, hợp tác đa phương sẽ ngày càng trở thành một trụ cột quan trọng của quan hệ song phương. Việt Nam đánh giá cao vai trò của Angola trong Liên minh châu Phi, SADC và ECCAS; đồng thời mong muốn tiếp tục phối hợp với Angola trong các vấn đề cùng quan tâm như phát triển bền vững, an ninh lương thực, ứng phó với biến đổi khí hậu, cải cách quản trị toàn cầu và nâng cao tiếng nói của các nước đang phát triển. Hai nước càng phối hợp hiệu quả trên các diễn đàn quốc tế thì lòng tin chính trị càng được củng cố.

Song song với hợp tác giữa các Chính phủ, theo tôi, cần tạo thêm nhiều cầu nối trực tiếp giữa người dân hai nước. Trong thời gian qua, Đại sứ quán đã tích cực thúc đẩy kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp và địa phương. Chuyến thăm, khảo sát lần thứ hai của đoàn chuyên gia nông nghiệp Việt Nam tại các cơ sở nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Angola (IIA) vừa qua là một ví dụ cho thấy hợp tác có thể bắt đầu từ những nhu cầu rất cụ thể và từng bước phát triển thành các chương trình dài hạn.
Một nguồn lực rất quý khác là nhiều người Angola từng được các giáo viên Việt Nam dạy học, được các bác sỹ Việt Nam chữa trị hiện đang đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước, trường đại học, bệnh viện và doanh nghiệp của Angola. Họ không chỉ có tình cảm đặc biệt với Việt Nam mà còn là những cầu nối tự nhiên, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa hai nước. Theo tôi, cần phát huy hiệu quả hơn mạng lưới này thông qua các chương trình giao lưu, kết nối và hợp tác chuyên môn.
Đặc biệt hợp tác giữa Việt Nam và Angola trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ mô hình "hỗ trợ phát triển" sang mô hình "cùng phát triển". Điều Angola quan tâm hiện nay không chỉ là tiếp nhận kinh nghiệm, mà còn mong muốn cùng Việt Nam triển khai các dự án về nông nghiệp, chuyển đổi số, giáo dục nghề nghiệp, khoa học - công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Khi hai bên cùng đầu tư nguồn lực, cùng chia sẻ lợi ích và cùng chịu trách nhiệm về kết quả, quan hệ song phương sẽ có nền tảng bền vững hơn rất nhiều.
Lòng tin chính trị là điều kiện cần, nhưng hợp tác cùng phát triển mới là điều kiện đủ để quan hệ Việt Nam-Angola bước sang một giai đoạn mới. Mỗi dự án thành công, mỗi doanh nghiệp đầu tư hiệu quả, mỗi nhà khoa học cùng nghiên cứu, mỗi sinh viên được đào tạo hay mỗi người nông dân được hưởng lợi từ các chương trình hợp tác đều góp phần làm cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc trở nên sâu sắc và bền chặt hơn.
Tôi tin rằng, với nền tảng hữu nghị đặc biệt được nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, cùng quyết tâm lấy phát triển làm trọng tâm của hợp tác, Việt Nam và Angola hoàn toàn có cơ sở để đưa quan hệ song phương phát triển lên một tầm cao mới, không chỉ vì lợi ích của hai nước mà còn đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển ở châu Á, châu Phi cũng như trên thế giới.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư được xem là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương. Theo Đại sứ, cần có những giải pháp gì để thúc đẩy kim ngạch thương mại, tăng cường kết nối doanh nghiệp và khuyến khích đầu tư hai chiều giữa Việt Nam và Angola?
Quan hệ chính trị tạo dựng niềm tin; quan hệ kinh tế mới quyết định sức sống lâu dài của quan hệ song phương. Đây là yêu cầu đặt ra đối với quan hệ Việt Nam - Angola trong giai đoạn hiện nay.
Có một thực tế rất đáng suy nghĩ: Việt Nam và Angola có quan hệ chính trị rất tốt, có lịch sử gắn bó đặc biệt, nhưng hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Kim ngạch thương mại song phương những năm gần đây còn ở mức khiêm tốn và chưa phản ánh đúng quy mô cũng như nhu cầu của hai nền kinh tế. Trong khi đó, Angola là nền kinh tế lớn thứ ba khu vực châu Phi cận Sahara, có dân số gần 40 triệu người, là thành viên của Khu vực Thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA) - thị trường hơn 1,4 tỷ dân với GDP khoảng 3.400 tỷ USD. Nếu nhìn Angola chỉ như một thị trường xuất khẩu thì chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội rất lớn; nhưng nếu coi Angola là một cửa ngõ để tham gia sâu hơn vào thị trường châu Phi thì ý nghĩa chiến lược sẽ hoàn toàn khác.

Trong nhiều năm qua, doanh nghiệp Việt Nam thường nhìn châu Phi nói chung và Angola nói riêng chủ yếu dưới góc độ xuất khẩu hàng hóa. Cách tiếp cận đó đã mang lại những kết quả nhất định, nhưng chưa đủ để tạo dựng sự hiện diện lâu dài. Trong bối cảnh AfCFTA đang từng bước hình thành một thị trường thống nhất của châu Phi, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ tư duy "bán hàng" sang tư duy "đầu tư, sản xuất và phát triển thị trường". Chỉ khi có sự hiện diện thực chất tại Angola, doanh nghiệp Việt Nam mới có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và tận dụng các ưu đãi của thị trường khu vực.
Thứ hai, cần giải quyết những điểm nghẽn mà cộng đồng doanh nghiệp vẫn thường phản ánh.
Qua trao đổi với doanh nghiệp hai nước trong thời gian qua, tôi nhận thấy khó khăn lớn nhất không phải là thiếu cơ hội, mà là thiếu thông tin đáng tin cậy về thị trường, thiếu đối tác được kiểm chứng, chi phí logistics còn cao và thanh toán quốc tế vẫn gặp nhiều trở ngại. Hiện chưa có tuyến vận tải biển trực tiếp giữa Việt Nam và Angola; hàng hóa thường phải trung chuyển qua nhiều cảng nên thời gian và chi phí đều tăng. Đây là những vấn đề không thể giải quyết trong một sớm một chiều, nhưng hoàn toàn có thể từng bước tháo gỡ thông qua sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ thương mại của hai nước.
Theo tôi, đây cũng chính là lúc vai trò của ngoại giao kinh tế cần được phát huy rõ nét hơn. Đại sứ quán không thể thay doanh nghiệp ký hợp đồng, nhưng có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro khi tiếp cận thị trường và rút ngắn thời gian xây dựng quan hệ với đối tác. Trong điều kiện của châu Phi, những yếu tố đó nhiều khi quyết định sự thành công của một dự án đầu tư.
Một hướng đi rất quan trọng là thúc đẩy kết nối doanh nghiệp theo ngành, thay vì chỉ tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại mang tính tổng hợp. Chẳng hạn, trong lĩnh vực nông nghiệp, Đại sứ quán đã phối hợp thúc đẩy các cuộc làm việc giữa Bộ Nông nghiệp hai nước, kết nối các viện nghiên cứu, khảo sát thực địa tìm hiều thực trạng cả về con người, chính sách và điều kiện tự nhiên. Những hoạt động như vậy giúp doanh nghiệp và cơ quan chuyên môn hiểu rõ nhu cầu thực tế của Angola, từ đó hình thành các dự án hợp tác có khả năng triển khai ngay, thay vì chỉ dừng ở trao đổi thông tin.
Nông-lâm nghiệp sẽ tiếp tục là lĩnh vực có khả năng tạo đột phá trong hợp tác kinh tế. Angola có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi nhưng mỗi năm vẫn phải nhập khẩu khối lượng lớn lương thực, trong đó có gạo. Việt Nam lại có thế mạnh về giống cây trồng, thủy lợi, cơ giới hóa, chế biến nông sản và tổ chức sản xuất. Nếu chương trình hợp tác phát triển lúa nước mà hai bên đang thúc đẩy, hay dự án tham gia trồng rừng ở mức quy mô lớn được triển khai thành công, đây sẽ không chỉ là một dự án nông - lâm nghiệp mà còn là mô hình hợp tác phát triển có thể nhân rộng sang nhiều lĩnh vực khác.

Bên cạnh đó, nhiều lĩnh vực mới cũng đang mở ra cơ hội rất lớn. Angola hiện ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, logistics và chuyển đổi số. Việt Nam có nhiều doanh nghiệp đã tích lũy kinh nghiệm trong các lĩnh vực này và hoàn toàn có khả năng tham gia vào quá trình phát triển của Angola. Tôi đặc biệt kỳ vọng vào hợp tác về chuyển đổi số, viễn thông, công nghệ nông nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, bởi đây là những lĩnh vực vừa phù hợp với nhu cầu của Angola, vừa là thế mạnh ngày càng rõ của Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, chúng ta cũng cần quan tâm hơn đến việc thu hút các doanh nghiệp Angola tìm hiểu cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Mặc dù quy mô đầu tư của Angola ra nước ngoài chưa lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp Angola đang có nhu cầu tìm kiếm đối tác trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến thực phẩm, logistics và thương mại. Đây là những lĩnh vực mà Việt Nam có môi trường đầu tư ổn định và nhiều lợi thế cạnh tranh.
Hay trong công nghiệp Halal, tuy Angola không phải là quốc gia Hồi giáo nhưng lại là nơi có nhiều người theo Hồi giáo sinh sống, có kinh nghiệp trong việc phát triển dịch vụ Halal, ta có thể học hỏi kinh nghiệm.
Trong thời gian tới, Đại sứ quán sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp của hai nước để xây dựng mạng lưới kết nối thường xuyên hơn; nâng cao chất lượng thông tin thị trường; hỗ trợ xác minh đối tác; đồng hành cùng doanh nghiệp trong suốt quá trình chuẩn bị và triển khai dự án. Theo tôi, ngoại giao kinh tế chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp coi Cơ quan đại diện là một người bạn đồng hành đáng tin cậy trong quá trình mở rộng thị trường.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đối ngoại phải góp phần mở rộng không gian phát triển của đất nước. Với tôi, điều đó không phải là một khái niệm trừu tượng. Mỗi doanh nghiệp Việt Nam đầu tư thành công tại Angola, mỗi thị trường mới được mở ra, mỗi dự án hợp tác được triển khai hiệu quả đều chính là sự mở rộng không gian phát triển của đất nước bằng những kết quả rất cụ thể.
Tôi tin rằng, với nền tảng chính trị tốt đẹp, tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế và quyết tâm của Chính phủ hai nước trong việc cải thiện môi trường hợp tác, quan hệ kinh tế Việt Nam - Angola sẽ có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Khi đó, những thành quả về thương mại và đầu tư sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần đưa quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước phát triển thực chất, bền vững và có chiều sâu hơn.
Bên cạnh hợp tác kinh tế, Việt Nam và Angola đã có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực như nông nghiệp, y tế, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Đại sứ đánh giá như thế nào về hiệu quả của các chương trình hợp tác này và đâu sẽ là những ưu tiên trong thời gian tới?
Một mối quan hệ bền vững không chỉ được xây dựng bằng các hiệp định giữa hai Chính phủ, mà còn bằng những giá trị mà người dân hai nước thực sự cảm nhận và thụ hưởng. Theo tôi, đây chính là ý nghĩa lớn nhất của các chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Angola trong hơn bốn thập kỷ qua.
Trong lịch sử quan hệ song phương, hợp tác về y tế, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực luôn là những lĩnh vực giàu tính nhân văn. Hàng nghìn lượt chuyên gia, bác sĩ, kỹ sư và giáo viên Việt Nam đã sang Angola công tác trong những giai đoạn khó khăn của đất nước bạn. Những đóng góp đó không chỉ giúp Angola phát triển nguồn nhân lực mà còn tạo nên một tài sản vô hình rất quý giá: tình cảm, sự tin cậy và sự thấu hiểu giữa nhân dân hai nước. Đó là nền tảng mà không một khoản đầu tư nào có thể thay thế.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những thành quả của quá khứ thì chưa đủ. Điều quan trọng là làm thế nào để những lĩnh vực hợp tác truyền thống tiếp tục tạo ra giá trị mới trong bối cảnh cả hai nước đều đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Như tôi đã nhắc đến, nông-lâm nghiệp là lĩnh vực có tiềm năng lớn nhất để tạo ra bước chuyển về chất. Việt Nam, từ một nước thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo và nông sản hàng đầu thế giới sẽ là tấm gương để Angola nhìn vào vì tìm thấy nhiều điểm đồng, họ quan tâm không đơn thuần là giống lúa hay kỹ thuật canh tác, mà là toàn bộ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Việt Nam, từ tổ chức sản xuất, thủy lợi, khuyến nông đến xây dựng chuỗi giá trị và phát triển thị trường. Ý nghĩa của chương trình Nam-Nam hiện nay không chỉ nằm ở việc trồng được cây lúa, mà quan trọng hơn là xây dựng một mô hình hợp tác tổng thể về chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật, phát triển vùng sản xuất và từng bước góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho Angola. Nếu thành công, đây có thể trở thành một biểu tượng mới của hợp tác Việt Nam - Angola trong giai đoạn phát triển.

Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam cũng có nhiều kinh nghiệm mà Angola quan tâm. Những năm gần đây, Angola tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống bệnh viện, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và đào tạo đội ngũ y tế. Việt Nam có thể chia sẻ kinh nghiệm về y tế cơ sở, quản lý bệnh viện, chuyển đổi số trong y tế, đào tạo bác sĩ chuyên khoa, sản xuất dược phẩm và thiết bị y tế, mở nhà máy sản xuất thuốc tại Angola, hay mở bệnh viện quốc tế Việt Nam tại Angola. Tôi cho rằng, hợp tác y tế trong giai đoạn tới nên chuyển từ hình thức cử chuyên gia ngắn hạn sang các chương trình đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và kết nối lâu dài giữa các bệnh viện, trường đại học y của hai nước.
Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cũng cần được tiếp cận bằng tư duy mới. Trong nhiều năm, trọng tâm hợp tác chủ yếu là cử chuyên gia đến Angola hỗ trợ giảng dạy, hoặc cấp học các bổng đào tạo dài hạn. Đây vẫn là một kênh rất quan trọng, nhưng bên cạnh đó, hai nước có thể mở rộng sang các chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo nghề, đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu. Trong bối cảnh Angola đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến, nhu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao sẽ ngày càng lớn. Đây chính là lĩnh vực Việt Nam có thể chia sẻ kinh nghiệm và đồng hành cùng Angola.
Theo tôi, ưu tiên lớn nhất trong thời gian tới là chuyển từ hợp tác theo từng dự án sang hợp tác xây dựng năng lực. Một dự án có thể kết thúc sau vài năm, nhưng nếu giúp nước bạn đào tạo được đội ngũ cán bộ, hình thành được mô hình phát triển và làm chủ được công nghệ thì giá trị sẽ bền vững hơn rất nhiều. Đây cũng là triết lý hợp tác mà Việt Nam luôn theo đuổi với các nước bạn bè truyền thống.
Bên cạnh đó, cần huy động sự tham gia mạnh mẽ hơn của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương của hai nước. Chính các chủ thể này mới là nơi trực tiếp tạo ra tri thức, công nghệ và các mô hình hợp tác cụ thể. Vai trò của Chính phủ và Cơ quan đại diện là kết nối, tạo khuôn khổ và hỗ trợ để những sáng kiến đó được triển khai hiệu quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển đất nước. Theo tôi, tinh thần đó cũng cần được vận dụng trong hợp tác quốc tế. Hợp tác giữa Việt Nam và Angola không chỉ là chia sẻ những gì chúng ta đã có, mà còn là cùng nhau tạo ra những giá trị mới dựa trên tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực.
Tôi tin rằng, nếu phát huy tốt nền tảng hữu nghị truyền thống, đồng thời đổi mới cách tiếp cận theo hướng cùng nghiên cứu, cùng đào tạo, cùng chuyển giao công nghệ và cùng phát triển, thì các lĩnh vực hợp tác truyền thống sẽ tiếp tục là điểm sáng trong quan hệ Việt Nam - Angola, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của mỗi nước và làm sâu sắc hơn tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
Đối ngoại mở những con đường mới để nền kinh tế đi tới đích

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai đường lối đối ngoại toàn diện, hiện đại và phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, Đại sứ quán Việt Nam tại Angola sẽ tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nào để làm sâu sắc hơn quan hệ song phương, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, năng lượng hay nông nghiệp công nghệ cao?
Trong giai đoạn phát triển mới, giá trị của một Cơ quan đại diện (CQĐD) không chỉ được đo bằng số lượng các cuộc tiếp xúc cấp cao, mà quan trọng hơn là bằng số cơ hội phát triển được tạo ra cho đất nước. Tôi cho rằng, đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với hệ thống các CQĐD Việt Nam ở nước ngoài khi triển khai đường lối đối ngoại toàn diện, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung cũng từng nhấn mạnh yêu cầu đối ngoại phải đi trước một bước, mở rộng không gian phát triển và huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước, tương xứng với vị thế trọng yếu, thường xuyên. Điều đó đòi hỏi mỗi Đại sứ quán không chỉ làm tốt công tác chính trị - đối ngoại theo nghĩa truyền thống, mà còn phải trở thành một "trung tâm kết nối" về kinh tế, khoa học - công nghệ, đầu tư, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực.

Đối với Angola, chúng tôi xác định nhiệm vụ đầu tiên vẫn là tiếp tục củng cố nền tảng chính trị - nền tảng đã được xây dựng bằng sự tin cậy và tình cảm đặc biệt giữa hai nước trong nhiều thập kỷ qua. Trong bối cảnh Angola ngày càng có vai trò quan trọng tại châu Phi, đặc biệt trong Liên minh châu Phi (AU), SADC và ECCAS, việc duy trì trao đổi thường xuyên với các cơ quan lãnh đạo, các bộ, ngành và địa phương của Angola không chỉ góp phần củng cố quan hệ song phương, tạo điều kiện để Việt Nam tăng cường kết nối với khu vực châu Phi mà còn kết nối cả ASEAN cho châu Phi.
Tuy nhiên, trọng tâm lớn nhất của Đại sứ quán trong thời gian tới sẽ là chuyển hóa quan hệ chính trị thành các chương trình hợp tác cụ thể.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đây là thời điểm rất thuận lợi để hai nước tăng cường hợp tác. Angola đang triển khai nhiều chương trình hiện đại hóa nền kinh tế, xây dựng hạ tầng số, phát triển trung tâm dữ liệu quốc gia, thúc đẩy chính phủ điện tử và đào tạo nguồn nhân lực công nghệ. Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu.
Xuất phát từ nhu cầu đó, thời gian qua, Đại sứ quán đã tích cực kết nối giữa các cơ quan chuyên môn của hai nước, thúc đẩy trao đổi giữa bộ ngành, các trường đại học và doanh nghiệp hai nước. Theo tôi, hợp tác khoa học - công nghệ trong giai đoạn tới không nên chỉ dừng ở trao đổi đoàn hay ký kết văn bản, mà cần hướng tới các dự án hợp tác cụ thể về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nông nghiệp, đào tạo nhân lực số và hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nông nghiệp và lâm nghiệp công nghệ cao tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu. Angola có tiềm năng rất lớn nhưng cũng đang cần những mô hình phát triển phù hợp với điều kiện thực tế. Vì vậy, Đại sứ quán đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành hai nước để thúc đẩy Chương trình phát triển lúa nước, tham gia các dự án trồng rừng quy mô lớn tại Angola theo hướng kết hợp giữa chuyển giao giống, quy trình kỹ thuật, cơ giới hóa, đào tạo cán bộ và xây dựng chuỗi giá trị. Đây không chỉ là hợp tác về sản xuất nông nghiệp mà còn là hợp tác về khoa học, công nghệ và phát triển nông thôn.
Bên cạnh đó, năng lượng cũng là lĩnh vực có nhiều triển vọng. Angola đang thúc đẩy đa dạng hóa nguồn năng lượng, phát triển thủy điện, điện mặt trời và từng bước chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững. Việt Nam đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong phát triển hạ tầng năng lượng, thu hút đầu tư và quản lý hệ thống điện. Đại sứ quán sẽ tiếp tục làm cầu nối để các doanh nghiệp, cơ quan quản lý và chuyên gia hai nước trao đổi thông tin, tìm kiếm các cơ hội hợp tác phù hợp.

Một nhiệm vụ mà chúng tôi đặc biệt coi trọng là nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu. Đối ngoại hiện đại không chỉ phản ứng trước các diễn biến quốc tế mà phải chủ động phát hiện xu hướng và nhận diện cơ hội từ rất sớm. Đại sứ quán sẽ tiếp tục theo dõi sát các chính sách phát triển của Angola, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, năng lượng, khai khoáng, chuyển đổi số, logistics và hạ tầng, từ đó kịp thời cung cấp thông tin, kiến nghị chính sách và kết nối đối tác cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong nước.
Chúng tôi cũng sẽ đổi mới mạnh mẽ cách thức triển khai ngoại giao kinh tế. Thay vì chỉ tổ chức các hoạt động xúc tiến đơn lẻ, Đại sứ quán sẽ hướng tới xây dựng mạng lưới hợp tác lâu dài giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương của hai nước. Khi những chủ thể này kết nối được với nhau một cách thường xuyên, quan hệ song phương sẽ có sức sống bền vững hơn rất nhiều.
Bên cạnh đó, ngoại giao văn hóa và ngoại giao nhân dân vẫn sẽ được quan tâm đúng mức. Cộng đồng người Việt Nam tại Angola nói chung và Hội Người Việt, Hội Doanh nhân Việt Nam tại Angola nói riêng tuy không lớn nhưng luôn đoàn kết, chấp hành tốt pháp luật sở tại và là cầu nối tích cực giữa hai nước, thực hiện tốt vai trò "đại sứ hữu nghị" rất đặc biệt. Chúng tôi sẽ tiếp tục phát huy nguồn lực quý giá này thông qua các hoạt động giao lưu, kết nối và hợp tác chuyên môn.
Theo tôi, trong thời đại ngày nay, một CQĐD không chỉ là nơi kết nối các Chính phủ, mà còn phải trở thành nơi kết nối tri thức, công nghệ, doanh nghiệp và các nguồn lực phát triển. Đó cũng là cách thiết thực nhất để hiện thực hóa tinh thần đối ngoại toàn diện, hiện đại mà Đảng và Nhà nước ta đang triển khai.
Tôi tin rằng, với nền tảng hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Angola, cùng quyết tâm đổi mới tư duy và phương thức hoạt động của các Cơ quan đại diện, chúng ta hoàn toàn có thể mở ra những lĩnh vực hợp tác mới có giá trị gia tăng cao hơn, góp phần đưa quan hệ Việt Nam-Angola phát triển thực chất, hiệu quả và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của mỗi nước.
Việt Nam đang phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới. Theo Đại sứ, Đại sứ quán Việt Nam tại Angola cần phát huy vai trò như thế nào trong việc góp phần thực hiện mục tiêu này, đặc biệt thông qua thúc đẩy ngoại giao kinh tế, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu và kết nối doanh nghiệp giữa hai nước?
Ngoại giao không trực tiếp tạo ra GDP, nhưng ngoại giao có thể mở ra thị trường, nguồn vốn, công nghệ, tri thức và niềm tin để GDP tăng trưởng. Theo tôi, đó chính là vai trò của đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số trong những năm tới. Đây là mục tiêu rất cao, đòi hỏi không chỉ sự đổi mới mạnh mẽ trong nước mà còn phải khai thác hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Trong bối cảnh đó, đối ngoại không chỉ có nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mà còn phải thực sự trở thành một động lực phát triển. Tôi cho rằng, quan điểm đối ngoại phải đi trước một bước, mở rộng không gian phát triển và huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước chính là yêu cầu đối với mỗi CQĐD Việt Nam ở nước ngoài.
Đối với Đại sứ quán Việt Nam tại Angola, đóng góp lớn nhất không phải là làm thay doanh nghiệp hay các bộ, ngành, mà là giúp Việt Nam nhận diện đúng những cơ hội phát triển mới trước khi người khác nhìn thấy. Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, quốc gia nào phát hiện cơ hội sớm hơn, kết nối nguồn lực nhanh hơn và hành động quyết liệt hơn sẽ có lợi thế lớn hơn trong phát triển.


Angola là một ví dụ điển hình. Nhiều năm trước, doanh nghiệp Việt Nam thường coi Angola chủ yếu là thị trường xuất khẩu hàng tiêu dùng. Nhưng ngày nay, Angola đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với trọng tâm là đa dạng hóa nền kinh tế, phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, năng lượng, logistics, kinh tế số và thu hút đầu tư. Đồng thời, với vai trò ngày càng quan trọng trong AU, SADC, ECCAS và việc tham gia AfCFTA, Angola đang trở thành một cửa ngõ để tiếp cận thị trường châu Phi rộng lớn. Nếu chúng ta chỉ nhìn Angola như một thị trường gần 40 triệu dân thì sẽ bỏ lỡ cơ hội; nhưng nếu coi Angola là điểm kết nối để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường hơn 1,4 tỷ dân của châu Phi thì ý nghĩa sẽ hoàn toàn khác.
Chính vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Đại sứ quán là nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu. Chúng tôi phải theo dõi sát những thay đổi trong chính sách phát triển của Angola, nhận diện sớm những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, từ đó chủ động đề xuất với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong nước. Giá trị của công tác tham mưu không nằm ở số lượng báo cáo, mà ở khả năng biến thông tin thành quyết sách và cơ hội phát triển.
Nhiệm vụ thứ hai là kết nối doanh nghiệp theo hướng thực chất hơn. Những năm qua, Đại sứ quán đã tích cực phối hợp tổ chức các đoàn công tác, kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy làm việc trực tiếp giữa các cơ quan chuyên môn hai nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, việc kết nối giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường hai nước, tổ chức khảo sát tại Huambo, làm việc với Viện Điều tra Nông nghiệp Angola (IIA) và xây dựng Chương trình hợp tác phát triển lúa nước là minh chứng cho cách làm mới của ngoại giao kinh tế: không chỉ giới thiệu cơ hội, mà cùng các đối tác chuẩn bị điều kiện để cơ hội trở thành dự án cụ thể.
Theo tôi, ngoại giao kinh tế cần chuyển từ tư duy "xúc tiến" sang tư duy "đồng hành". Doanh nghiệp không chỉ cần thông tin về thị trường, mà còn cần sự hỗ trợ trong xác minh đối tác, kết nối cơ quan quản lý, tháo gỡ khó khăn về thủ tục, thanh toán, logistics và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư. Một CQĐD thành công không phải là nơi tổ chức nhiều hội thảo nhất, mà là nơi có nhiều doanh nghiệp quay trở lại vì họ thực sự nhận được sự hỗ trợ hiệu quả.
Đối với Angola, tôi cho rằng, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, viễn thông, chuyển đổi số, năng lượng, logistics và đào tạo nguồn nhân lực sẽ là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao trong những năm tới. Đây cũng là những lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển của Angola và thế mạnh của Việt Nam. Nếu tận dụng tốt, không chỉ doanh nghiệp Việt Nam có thêm thị trường, mà chúng ta còn có thể tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển của một trong những nền kinh tế quan trọng của châu Phi.
Một nhiệm vụ khác mà Đại sứ quán đặc biệt coi trọng là góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam như một đối tác phát triển tin cậy. Trước đây, nhiều nước biết đến Việt Nam qua lịch sử đấu tranh giành độc lập. Ngày nay, điều chúng ta cần làm là để bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam như một nền kinh tế năng động, một trung tâm sản xuất, một quốc gia đổi mới sáng tạo và một đối tác có trách nhiệm. Hình ảnh quốc gia được nâng lên sẽ trực tiếp tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, du lịch và hợp tác khoa học - công nghệ.
Theo tôi, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, không gian phát triển của một quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi diện tích lãnh thổ, mà bởi khả năng kết nối với thế giới. Mỗi thị trường mới được mở ra, mỗi đối tác chiến lược được thiết lập, mỗi dự án đầu tư được triển khai thành công đều góp phần mở rộng không gian phát triển của Việt Nam.


Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số là đích đến, thì đối ngoại phải góp phần mở ra những con đường mới để nền kinh tế đi tới đích đó. Mỗi cơ quan đại diện cần trở thành một "điểm kết nối phát triển", nơi quy tụ thông tin, cơ hội, đối tác và các nguồn lực quốc tế phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của đất nước. Đó cũng là cách thiết thực nhất để hiện thực hóa tinh thần đối ngoại toàn diện, hiện đại và phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam.
Tôi tin tưởng rằng, với nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Angola, cùng sự chủ động đổi mới của các Cơ quan đại diện, sự đồng hành của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta sẽ khai thác hiệu quả hơn những tiềm năng của thị trường Angola và châu Phi, qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thực hiện: Linh Chi | Nguồn ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Angola
2 giờ trước
5 phút trước
1 giờ trước
19 phút trước
20 phút trước
44 phút trước
54 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước