🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

'Đại dịch' của phụ nữ

2 giờ trước
Ung thư vú đang được xem là 'đại dịch thầm lặng' ở phụ nữ khi số ca mắc ngày càng gia tăng trên toàn cầu. Tại Việt Nam, nhiều bệnh nhân vẫn được phát hiện ở giai đoạn muộn.
00:00
00:00

Vết sẹo phẫu thuật ung thư vú của một bệnh nhân. Ảnh: Washington Post.

Tại hội nghị Cập nhật tiến bộ trong điều trị và chăm sóc ung thư tổ chức ở Bệnh viện Đa khoa quốc tế Nam Sài Gòn (TP.HCM) ngày 14/3, các bác sĩ cho biết ung thư vú đang trở thành thách thức lớn đối với hệ thống y tế. Dù tỷ lệ mắc tại Việt Nam thấp hơn một số nước phát triển, tỷ lệ tử vong lại cao hơn do nhiều bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn.

Theo báo cáo thống kê ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) mới nhất, ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất thế giới xét trên cả số ca mắc mới và số ca tử vong. Đứng ngay sát nút ở vị trí thứ hai là ung thư vú, căn bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ tại đại đa số các quốc gia.

Ung thư vú tăng nhanh

Phát biểu tại hội nghị, PGS y khoa Wendy Y. Chen, Viện Ung thư Dana-Farber, Đại học Y Harvard (Mỹ), cho biết ung thư vú hiện là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới, đồng thời cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu do ung thư ở nữ giới.

Theo bác sĩ Chen, tại Việt Nam, mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn so với Mỹ, tỷ lệ tử vong lại cao hơn đáng kể. Điều này phản ánh những thách thức trong việc tầm soát, phát hiện sớm và tiếp cận điều trị hiệu quả.

Bệnh nhân tầm soát ung thư vú tại TP.HCM. Ảnh: Duy Hiệu.

Dữ liệu tại TP.HCM cho thấy số ca ung thư vú đã tăng khoảng 70% trong giai đoạn 1996-2015. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm vẫn còn khá thấp.

Cụ thể, chỉ khoảng 26% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn I. Trong khi đó tại Mỹ, con số này dao động từ 50-60%. Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn (III-IV) tại Việt Nam lên tới 26%, cao hơn nhiều so với khoảng 10% tại Mỹ.

Bác sĩ Chen cho hay việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả điều trị. Khi ung thư vú được chẩn đoán sớm, cơ hội điều trị thành công cao hơn và nhiều bệnh nhân có thể bảo tồn được tuyến vú.

"Do đó, việc tăng cường các chương trình tầm soát và nâng cao nhận thức của cộng đồng về ung thư vú được xem là yếu tố then chốt giúp giảm tỷ lệ tử vong", bác sĩ Chen nói.

Một điểm đáng chú ý được PGS Wendy Y. Chen đề cập là phụ nữ châu Á thường được chẩn đoán ung thư vú ở độ tuổi trẻ hơn so với phụ nữ phương Tây. Tại Việt Nam, độ tuổi trung bình khi phát hiện ung thư vú khoảng 51 tuổi, trong khi tại Mỹ con số này là 61 tuổi. Tuy nhiên, nguyên nhân của sự khác biệt này hiện vẫn chưa được xác định rõ ràng.

PGS Chen cho rằng sự khác biệt có thể liên quan đến nhiều yếu tố như di truyền, môi trường sống, chế độ ăn uống và đặc điểm sinh học của khối u. Tuy nhiên, cần thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.

PGS y khoa Wendy Y. Chen báo cáo tại hội nghị ung thư ở TP.HCM. Ảnh: BVCC.

Theo nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai, tại Việt Nam, mỗi năm có hơn 24.000 ca mắc mới ung thư vú. Xu hướng mắc bệnh ở nhóm 30-40 tuổi đang gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyến cáo cần nhìn nhận thực tế một cách bình tĩnh và khoa học, tránh tâm lý hoang mang quá mức. Những người có tiền sử gia đình mắc ung thư được xem là nhóm nguy cơ cao, cần đặc biệt lưu ý tầm soát sớm và định kỳ để bảo vệ sức khỏe.

Các bác sĩ Bạch Mai cho hay nhiều người trẻ tự tin vào sức khỏe của mình và cho rằng ung thư là căn bệnh xa vời. Nhưng thực tế, “sát thủ thầm lặng” này có thể xuất hiện khi cơ thể chưa hề có triệu chứng rõ ràng.

Điểm chung của các bệnh nhân trẻ tuổi vừa được phát hiện tại Bạch Mai là không có dấu hiệu bất thường. Họ đến khám đơn giản vì ý thức tầm soát sức khỏe định kỳ. Theo các bác sĩ, nếu đợi đến khi đau, sờ thấy khối u hoặc có tổn thương xâm lấn mới đi khám thì cơ hội điều trị sẽ giảm đáng kể. Nhờ sự phối hợp của các kỹ thuật như siêu âm, chụp X-quang vú, MRI, nhiều tổn thương đã được phát hiện ngay từ giai đoạn sớm nhất.

Xu hướng điều trị ung thư vú cá thể hóa

Theo PGS Wendy Y. Chen, điều trị ung thư vú hiện nay đang chuyển dần từ cách tiếp cận truyền thống sang xu hướng cá thể hóa điều trị. Thay vì chỉ dựa vào kích thước khối u hay giai đoạn bệnh, bác sĩ sẽ dựa vào các đặc điểm sinh học và phân tử của khối u để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

"Trong một số trường hợp nguy cơ thấp, bệnh nhân có thể được giảm bớt các can thiệp điều trị như phẫu thuật hạch, xạ trị hoặc hóa trị mà vẫn đảm bảo hiệu quả", PGS Chen nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, nhiều tiến bộ mới trong điều trị ung thư vú đang mở ra triển vọng tích cực cho người bệnh. Các liệu pháp hiện đại như thuốc nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch và các loại thuốc “kháng thể gắn thuốc” đang giúp cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị, đặc biệt ở những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn di căn.

Nhờ những tiến bộ này, tiên lượng của bệnh nhân ung thư vú di căn đã có nhiều cải thiện. Hiện nay, hơn một phần ba bệnh nhân ung thư vú di căn có thể sống trên 5 năm, điều mà trước đây rất khó đạt được.

Bác sĩ lấy cơ lưng làm ngực cho bệnh nhân ung thư vú. Ảnh: Duy Hiệu.

Trong tương lai, việc mở rộng tầm soát sớm, ứng dụng các xét nghiệm di truyền và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng bệnh nhân được kỳ vọng sẽ giúp giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do ung thư vú.

Tại Việt Nam, phương pháp điều trị ung thư vú cũng đang có nhiều thay đổi tích cực. Bác sĩ chuyên khoa II Vương Đình Thy Hảo, Phó khoa Hóa trị, Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), cho biết riêng trong năm 2025, bệnh viện đã thực hiện khoảng 1.000 ca phẫu thuật ung thư vú.

Trước đây, phần lớn các trường hợp ung thư vú đều được điều trị bằng phẫu thuật đoạn nhũ, tức là cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. Tuy nhiên, theo thời gian, xu hướng điều trị đã thay đổi đáng kể. Hiện nay, khoảng 30% trường hợp ung thư vú tại bệnh viện đã được thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú. Phương pháp này cho phép bác sĩ chỉ cắt bỏ khối u và phần mô xung quanh, giúp giữ lại phần lớn cấu trúc của tuyến vú.

Theo bác sĩ Hảo, sự thay đổi này có được nhờ nhiều địa phương đã được trang bị thêm các phương pháp điều trị hỗ trợ như xạ trị và hóa trị. Nhờ đó, bác sĩ có thể kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau, giúp đạt hiệu quả tương đương nhưng vẫn bảo tồn được tuyến vú cho người bệnh.

Nhìn chung, kết quả điều trị ung thư vú tại Việt Nam hiện nay đang dần được cải thiện và tiệm cận với nhiều tiến bộ của thế giới.

Nguyễn Thuận

Home Icon VỀ TRANG CHỦ