🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đà Nẵng: Mở hướng phát triển kinh tế từ tín chỉ các-bon rừng

9 giờ trước
Đà Nẵng phấn đấu đến năm 2030 triển khai từ 1-3 dự án các-bon rừng, trong đó có ít nhất một dự án đủ điều kiện tham gia thị trường các-bon trong nước và ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ các-bon.

Đây được xem là bước đi mới nhằm biến giá trị hấp thụ các-bon của rừng thành nguồn lực phục vụ bảo vệ môi trường, phát triển sinh kế và thúc đẩy kinh tế xanh.

Thí điểm để hình thành thị trường

UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Quyết định số 3688/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ các-bon rừng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.

Đà Nẵng đang từng bước chuyển từ tư duy “bảo vệ rừng bằng chi phí” sang “bảo vệ rừng để tạo ra giá trị”.

Theo đó, đề án không chỉ đặt mục tiêu hình thành nguồn cung tín chỉ các-bon mà còn hướng tới xây dựng một cơ chế quản lý lâu dài, trong đó giá trị của rừng được nhìn nhận không chỉ ở gỗ, lâm sản hay cảnh quan sinh thái, mà còn ở khả năng hấp thụ và lưu giữ khí nhà kính.

Trong đó, giai đoạn 2026-2030, Đà Nẵng sẽ điều tra, rà soát hiện trạng rừng, tính toán trữ lượng các-bon và phân loại 100% diện tích rừng có tiềm năng triển khai dự án các-bon.

Đây là bước nền quan trọng bởi muốn đưa tín chỉ các-bon vào giao dịch, địa phương phải xác định được lượng các-bon rừng đang lưu giữ, khả năng hấp thụ thêm và mức giảm phát thải có thể tạo ra từ các hoạt động bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng.

Cùng với đó, thành phố sẽ phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu nền, xác lập đường cơ sở (baseline) và mức tham chiếu phát thải rừng (FREL/FRL). Cùng với đó là xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh (MRV), nhằm bảo đảm lượng tín chỉ được tạo ra có cơ sở khoa học, minh bạch và có thể kiểm chứng.

Với cách tiếp cận này, rừng được đặt trong một chuỗi giá trị mới: bảo vệ rừng - tăng hấp thụ các-bon - hình thành tín chỉ - giao dịch - tái đầu tư cho rừng và cộng đồng. Đây chính là điểm giao thoa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Khi giá trị hấp thụ các-bon được lượng hóa và tham gia thị trường, công tác giữ rừng có thêm một nguồn lực tài chính thay vì chỉ dựa vào ngân sách hoặc các chương trình hỗ trợ truyền thống.

Đặc biêt, Đà Nẵng phấn đấu triển khai từ 1-3 dự án các-bon rừng thí điểm trong giai đoạn 2026-2030. Qua đó, thành phố sẽ rà soát, đánh giá và hoàn thiện quy trình thực hiện, nhất là quy trình MRV.

Mục tiêu đến năm 2030 là có 1-3 dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hợp tác với ít nhất hai đối tác trong nước và quốc tế; hoàn thành tối thiểu 1-2 hồ sơ đăng ký dự án và tín chỉ các-bon rừng; đồng thời ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ các-bon trong nước hoặc quốc tế, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật.

Nếu được triển khai hiệu quả, đây không chỉ là câu chuyện tạo ra một loại hàng hóa mới mà còn mở thêm một kênh huy động nguồn lực cho kinh tế xanh. Trong đó, nguồn thu từ tín chỉ các-bon rừng được định hướng quay trở lại phục vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao sinh kế cho người dân. Qua đó, giá trị kinh tế được tạo ra từ khả năng hấp thụ các-bon có thể trở thành nguồn vốn tái đầu tư cho chính hệ sinh thái đã tạo ra giá trị đó.

Theo đó, Đà Nẵng đặt yêu cầu xây dựng cơ chế quản lý, giám sát và phân chia lợi ích theo hướng công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục đích và hiệu quả. Đặc biết, một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của thị trường các-bon rừng là cơ chế phân chia lợi ích.

Theo đó, đối tượng tham gia khá rộng, từ cơ quan quản lý nhà nước, chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đến doanh nghiệp, tổ chức tư vấn, tổ chức trung gian và các đơn vị tham gia đầu tư, chuyển giao, giao dịch tín chỉ.

Cùng với đó, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp và các-bon rừng được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về kiểm kê khí nhà kính, MRV và thị trường các-bon.

Đồng thời, tối thiểu 70% chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư có rừng đủ điều kiện sẽ được hướng dẫn tham gia các hoạt động liên quan đến các-bon rừng. Đây là điều có ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển kinh tế môi trường. Bởi nếu người dân và cộng đồng chỉ được xem là đối tượng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ rừng mà không được hưởng lợi tương xứng từ giá trị môi trường do mình tạo ra, cơ chế các-bon khó tạo động lực bền vững.

Ngược lại, khi bảo vệ rừng có thể tạo thêm thu nhập, rừng sẽ trở thành một tài sản sinh thái có giá trị lâu dài đối với cộng đồng.

Kết nối tín chỉ các-bon với kinh tế Đà Nẵng

Theo đề án, định hướng đến năm 2035, Đà Nẵng đặt mục tiêu hoàn thiện và vận hành ổn định hệ thống quản lý các-bon rừng; nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, hệ thống MRV và năng lực quản lý nhà nước trong phê duyệt dự án, cấp tín chỉ.

Đà Nẵng đặt mục tiêu hoàn thiện và vận hành ổn định hệ thống quản lý các-bon rừng; nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, hệ thống MRV và năng lực quản lý nhà nước trong phê duyệt dự án, cấp tín chỉ.

Qua đó, thành phố cũng định hướng từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế khi đủ điều kiện, chủ động kết nối nguồn cung tín chỉ các-bon rừng với thị trường các-bon trong nước, gắn với định hướng phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và hệ thống giao dịch các-bon theo lộ trình của Chính phủ.

Nếu hình thành được nguồn cung tín chỉ có chất lượng, Đà Nẵng có thể từng bước kết nối giá trị sinh thái của khu vực rừng với các hoạt động tài chính xanh, đầu tư xanh và trách nhiệm giảm phát thải của doanh nghiệp.

Theo đó, thị trường các-bon không chỉ là công cụ giảm phát thải mà còn có thể trở thành một bộ phận của hệ sinh thái kinh tế xanh, tạo thêm động lực để doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động giảm phát thải, phục hồi hệ sinh thái và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.

Cụ thể; phạm vi thực hiện Đề án bao gồm các chương trình, dự án tạo tín chỉ các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất như bảo vệ rừng tự nhiên, phục hồi rừng, trồng rừng, làm giàu rừng, quản lý rừng bền vững và các biện pháp lâm sinh nhằm tăng cường hấp thụ, lưu giữ các-bon.

Vấn đề cho thấy hướng tiếp cận của Đà Nẵng không phải khai thác giá trị kinh tế của rừng bằng mọi giá, mà là tạo ra giá trị từ việc giữ rừng tốt hơn, phục hồi rừng tốt hơn và tăng khả năng hấp thụ các-bon của hệ sinh thái.

Theo đó, đây là mô hình kinh tế dựa trên việc bảo tồn vốn tự nhiên. Rừng được giữ lại không chỉ để bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học và cảnh quan, mà còn tạo ra giá trị kinh tế từ dịch vụ hệ sinh thái.

Tuy nhiên, để thị trường các-bon rừng phát triển thực chất, Đà Nẵng sẽ phải giải quyết đồng thời nhiều yêu cầu: dữ liệu phải chính xác, tín chỉ phải có tính minh bạch, quy trình MRV phải đáng tin cậy, quyền và lợi ích của chủ rừng phải được bảo đảm, đồng thời việc giao dịch phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật.

UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan đầu mối, chủ trì tham mưu tổ chức triển khai Đề án; đồng thời tham mưu UBND thành phố báo cáo, trình Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố ban hành Nghị quyết về tập trung đẩy mạnh xây dựng và thực hiện các dự án các-bon rừng.

Với mục tiêu rõ ràng cho từng giai đoạn, Đà Nẵng đang từng bước chuyển từ tư duy “bảo vệ rừng bằng chi phí” sang “bảo vệ rừng để tạo ra giá trị”. Nếu các dự án thí điểm được triển khai minh bạch, hiệu quả, tín chỉ các-bon rừng có thể trở thành một nguồn lực mới cho kinh tế xanh, đồng thời tạo động lực để người dân, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia bảo vệ tài nguyên rừng.

Trọng Nghị

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ