Đa Gia Ly: Trầm tích lịch sử Champa giữa lòng Hà Nội



Hình ảnh: Đ.Tr
Nép mình bên chân cầu Thăng Long, nơi dòng sông Hồng uốn lượn qua vùng đất ven Hồ Tây, làng Phú Gia vẫn giữ vẻ tĩnh lặng của một ngôi làng cổ ngàn năm. Ít ai biết rằng sau những mái đình rêu phong và những con ngõ nhỏ ấy là câu chuyện lịch sử đặc biệt: Dấu tích của một cộng đồng người Chăm Pa từng định cư nơi đây từ thời Lý.
Từ cái tên cổ Đa Gia Ly, những pho tượng đá trong đình chùa cho đến ký ức của các dòng họ trong làng, cho thấy dấu ấn văn hóa Champa trong dòng chảy trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội.
Từ Đa Gia Ly đến Phú Gia: Dấu xưa từ những danh xưng biến âm
Lịch sử làng Phú Gia gắn với những biến động lớn của các vương triều Đại Việt. Theo sử cũ, vào năm 1044, vua Lý Thánh Tông đã đưa khoảng 5.000 người Chăm về kinh thành Thăng Long, định cư tại vùng đất ven sông Hồng này.
Những cư dân mới lập ấp, đặt tên vùng đất là Đa Gia Ly. Theo cách giải thích được truyền lại trong làng, tên gọi này trong tiếng Chăm có nghĩa là "một vùng quê trù phú". Trải qua nhiều thế kỷ biến đổi, Đa Gia Ly dần đọc chệch thành Bà Già hương (làng), rồi thôn Bà Già, trước khi chính thức mang tên Phú Gia vào thời Trần Thái Tông.
Dẫu tên làng đã thay đổi theo dòng lịch sử, ký ức về nguồn gốc Champa vẫn còn được lưu giữ trong không gian văn hóa của làng. Tại chùa Bà Già và đình Phú Gia, nhiều người vẫn nhắc đến đôi phỗng đá sa thạch mang phong cách nghệ thuật Chăm cổ.
Những bức tượng có khuôn mặt vuông, trán ngắn, mũi to, môi dày, bụng phệ và mông cong - những đặc điểm được cho là gợi nhớ đến hình tượng các vũ nữ Apsara thường xuất hiện trên các đỉnh tháp Champa ở miền Trung.



Hình ảnh: Đ.Tr
Những pho tượng đá kể chuyện giao thoa văn hóa
Đôi tượng phỗng đá tại làng Phú Gia được xem là một chứng tích đặc biệt cho sự giao thoa giữa văn hóa Champa và văn hóa Đại Việt.
Các pho tượng được tạc từ đá giống loại đá sa thạch, cao khoảng một mét. Loại đá này có đặc điểm càng dùng lâu càng bóng. Những phần được người dân thường xuyên chạm vào khi xin lộc đã trở nên nhẵn bóng theo thời gian.
Về hình thể, tượng mang nhiều nét nhân chủng học đặc trưng: khuôn mặt vuông nhìn thẳng, trán ngắn, mắt to tròn, mũi lớn, má bạnh, cằm nhọn, miệng rộng với đôi môi dày. Tượng có búi tóc trên đầu, tai dài, bụng phệ và mông cong, thần thái mỉm cười hồn hậu. Trang phục là chiếc váy sarong với phần hông thắt nút và dây buộc - kiểu trang phục quen thuộc của người Chăm cổ.
Điểm đáng chú ý nằm ở tư thế và biểu tượng của tượng. Theo truyền thống Champa, khi thực hiện nghi lễ tế trời đất, tay tượng thường phải dâng cao quá đầu. Tuy nhiên tại Phú Gia, đôi tay của tượng lại được tạc hạ thấp xuống, tạo nên một tư thế cung kính, khiêm nhường.
Chi tiết ấy được xem như một cách thích nghi văn hóa: Người thợ Chăm đã điều chỉnh hình tượng để phù hợp với không gian tín ngưỡng của Thăng Long.
Đặc biệt, hai pho tượng được tạc thành một cặp nam - nữ, thể hiện triết lý âm dương đối đãi, gợi liên tưởng đến hình tượng Linga - Yoni trong tâm linh Champa. Trong bối cảnh đình làng Việt xưa vốn rất kiêng sự hiện diện của nữ giới, việc xuất hiện tượng nữ ở cổng đình được xem như một sự hòa biến kín đáo của hai nền văn hóa.
Bên cạnh đó, tại đình còn xuất hiện các mô-típ như chim thần Garuda hay hình tượng "đôi chim phượng mỏ quặp", tiếp tục gợi nhắc đến sự kết hợp giữa nghệ thuật Champa và văn hóa Đại Việt.


Hình ảnh: Đ.Tr
Những dòng họ mang dấu ấn Champa
Không chỉ tồn tại trong các hiện vật, dấu ấn Champa ở Phú Gia còn được lưu giữ qua ký ức của cư dân làng Gạ.
Theo nhiều tài liệu và truyền khẩu địa phương, hai dòng họ lớn trong làng: họ Công và họ Hy, được xác định là hậu duệ của cộng đồng người Chăm cổ từng sinh sống tại đây.
Ban đầu, tổ tiên của họ mang hai họ Ông và Bố. Tuy nhiên khi hòa nhập vào đời sống văn hóa Việt, hai tên họ này dễ gây húy phạm do "ông" và "bố" là cách gọi bề trên trong tiếng Việt. Vì vậy, các thế hệ sau đã chủ động chuyển đổi:
- Họ Ông đổi thành họ Công
- Họ Bố đổi thành họ Hy
Việc đổi họ không chỉ nhằm tránh húy phạm mà còn thể hiện quá trình hòa nhập của cộng đồng cư dân Chăm vào xã hội Đại Việt.

Ông Công Phương Điệp chia sẻ về lịch sử làng Phú Gia.
Ngày nay, họ Công và họ Hy vẫn là hai dòng họ lớn trong làng Phú Gia. Đặc biệt, dòng họ Công và họ Hy được biết đến là một dòng họ có truyền thống hiếu học lâu đời, với phong trào khuyến học khuyến tài sôi nổi. Nhiều người đỗ đạt trong lịch sử và có nhiều Tiến sĩ khi còn rất trẻ như Tiến sĩ Hy Đức Mạnh, Tiến sĩ Hy Thị Hồng Nhung, Tiến sĩ Công Nghĩa Hoàn, Tiến sĩ sử học Công Thị Nghĩa (Thu Trang)...
Trong những ngôi nhà cổ của làng Gạ, các bậc cao niên vẫn nhắc lại câu chuyện về nguồn cội. Ông Công Phương Điệp - một người con của làng từng dành nhiều năm tìm hiểu lịch sử cha ông đã tự hào nói: "Tôi là người gốc Chăm".
Với ông, việc kể lại câu chuyện nguồn gốc không chỉ để tự hào, mà còn để nhắc nhở thế hệ sau về nơi mình sinh ra.
Ông Công Phương Điệp - Người làng Phú Gia
"Một con người sinh ra thì không bao giờ chê cái nơi mình nghèo… cần viết lại, cần nói lại để thế hệ sau đừng coi thường nơi mình sinh ra."
Trải qua gần một nghìn năm, cư dân Phú Gia đã hòa huyết và sống giữa đô thị hiện đại của Hà Nội. Từ cái tên cổ Đa Gia Ly đến những pho tượng đá sa thạch, từ câu chuyện đổi họ của các dòng họ đến ký ức của người làng, tất cả tạo nên một lớp trầm tích văn hóa đặc biệt.
Giữa Hà Nội đang phát triển từng ngày, làng Phú Gia vẫn như một nốt trầm lặng lẽ trong bản nhạc Thăng Long - Hà Nội. Những dấu tích Champa nơi đây không ồn ào, không phô bày, mà tồn tại như một trang sử, nhắc nhớ về hành trình di cư, hòa nhập và tiếp biến văn hóa của các cộng đồng người trên mảnh đất ngàn năm văn hiến.
Đỗ Tho
1 giờ trước
2 giờ trước
7 giờ trước
4 giờ trước
37 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước