🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Cuốn nhật ký úa màu của cha và hành trình trở về của 4 liệt sĩ giữa rừng sâu

10 giờ trước
Sau 37 năm, câu chuyện quy tập 4 hài cốt liệt sĩ giữa rừng sâu lại 'sống dậy' trong ký ức của ông Hà, qua những trang nhật ký úa màu của người cha.
00:00
00:00

Ông Nguyễn Thanh Hà lưu giữ những trang nhật ký của cha và kỷ niệm về đợt quy tập 4 hài cốt liệt sĩ giữa rừng.

Câu chuyện về hành trình tìm thấy, quy tập các phần mộ liệt sĩ từ giữa rừng đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ gần 40 năm trước vẫn được ông Nguyễn Thanh Hà (SN 1961, ở thôn Hùng Cường, xã Vĩnh Hoàng, tỉnh Quảng Trị) gìn giữ như một phần trách nhiệm với người đã ngã xuống. Đó cũng là những kỷ niệm ý nghĩa trong cuộc đời ông.

Từ những mô đất vô danh giữa đại ngàn đến những cuộc đoàn tụ sau hàng chục năm, hành trình ấy được lưu lại trong các trang nhật ký của người cha đã khuất và trong ký ức của những người ở lại.

Những mô đất lạ giữa rừng ẩn chứa hài cốt liệt sĩ

Ông Nguyễn Thanh Hà kể, năm 1989, do cuộc sống còn khó khăn, ông Hà theo cha là Nguyễn Trường Sơn (1937-1990), cùng người hàng xóm là Thái Văn Tỉnh (SN 1940) vào rừng lấy mây.

Tại khu vực Xà Roàng, khe Đường Tăng thuộc xã Vĩnh Ô trước đây, 3 người phát hiện nhiều mô đất hình chữ nhật nổi lên giữa rừng.

Khác với các ụ đất tự nhiên, những mô đất được đắp ngay ngắn khiến các ông nghi ngờ đây là những phần mộ liệt sĩ.

Sau khi trở về báo với cơ quan chức năng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện hỗ trợ kinh phí hương khói để tổ chức cất bốc.

Những trang nhật ký do cha ông Hà là Nguyễn Trường Sơn để lại, qua gần 40 năm đã ố màu.

Ngày 19/6 năm Kỷ Tỵ (1989), ông Hà cùng cha và ông Thái Văn Tỉnh quay trở lại hiện trường, cất bốc được 3 hài cốt liệt sĩ.

Điều đặc biệt là cả 3 ngôi mộ đều có bia bằng tôn đặt nổi trên mặt đất. Khi đào xuống, dưới lớp đất vẫn còn những mảnh tôn khác khắc rõ tên liệt sĩ.

Sau khi hoàn tất việc cất bốc, các ông đưa về bàn giao hài cốt cho cơ quan chức năng an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vĩnh Linh, còn các tấm bia tôn được để lại nguyên vị trí.

Ba liệt sĩ được xác định gồm: Liệt sĩ Lê Ngọc Thấn (SN 1938, quê Thọ Phát, Đông Sơn, Thanh Hóa), hy sinh ngày 16/10/1968; Liệt sĩ Nguyễn Đăng Xê, quê Quỳnh Lâm (thuộc Quỳnh Phụ, Thái Bình (cũ)), hy sinh ngày 20/10/1968.

Liệt sĩ thứ 3 là Hoàng Văn Dần (SN 1950, quê Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây (cũ)), hy sinh ngày 17/9/1968.

Chưa đầy một năm sau, ngày 12/4/1990, hai cha con ông Hà tiếp tục phát hiện thêm một phần mộ cách vị trí cũ khoảng một quả đồi. Đó là phần mộ liệt sĩ Lê Phú Xuân (SN 1942, quê Phú Phương, Ba Vì, Hà Tây (cũ)), hy sinh ngày 3/10/1968.

Theo ông Hà, đây là ngôi mộ khó cất bốc nhất. Phải mất gần một buổi sáng mới đưa được hài cốt lên vì hệ thống rễ cây lớn đè ngang phần mộ. Trên mặt mộ có bia tôn, đào xuống bên dưới cũng tiếp tục phát hiện một tấm bia tôn khác ghi tên liệt sĩ.

“Thời gian làm chữ trên tấm tôn bị mờ. Chúng tôi phải lau sạch, sau đó bôi một lớp than đen trên tấm tôn và buổi tối đưa đến trước ánh lửa mới đọc được tên khắc trên đó”, ông Hà nhớ lại.

Những dòng nhật ký gợi nhắc về kỷ niệm khó quên.

Những cuộc đoàn tụ nghĩa tình sau hàng chục năm

Sau khi quy tập các phần mộ về Nghĩa trang Liệt sĩ Vĩnh Linh, ông Nguyễn Trường Sơn - bố ông Hà viết thư gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương, mong cơ quan chức năng tìm kiếm thân nhân các liệt sĩ.

Ngày 22/12/1989, gia đình ông Hà nhận được thư hồi âm của thân nhân liệt sĩ Nguyễn Đăng Xê. Tuy nhiên, đến ngày 8/4/2007, gia đình mới vào Quảng Trị thăm phần mộ.

Thời gian sau đó, hai gia đình thường xuyên qua lại, coi nhau như người thân. Dịp cưới con của ông Hà, con trai liệt sĩ Nguyễn Đăng Xê là ông Nguyễn Đăng Tiệp (SN 1964) cũng vào dự.

Tình cảm ấy được gìn giữ, thắt chặt suốt nhiều năm. Năm 2023, gia đình mới đưa hài cốt liệt sĩ Xê về quê tại Quỳnh Lâm, Thái Bình (cũ).

Gia đình liệt sĩ Lê Ngọc Thấn cũng sớm nhận được thông tin và vào Quảng Trị. Thời điểm đó, ông Hà đi làm xa nên vợ ông là người tiếp đón.

Sau khi đưa hài cốt liệt sĩ về quê năm 2012, gia đình vẫn nhiều lần trở lại thăm hỏi. Con trai liệt sĩ là ông Lê Trọng Nhàn đến nay vẫn giữ mối liên hệ với gia đình ông Hà.

Riêng hai liệt sĩ Lê Phú Xuân và Hoàng Văn Dần, sau khi bàn giao cho cơ quan chức năng an táng, nhiều năm trôi qua ông Hà không còn nhớ chính xác vị trí từng phần mộ trong nghĩa trang. Mỗi lần đến Nghĩa trang Liệt sĩ Vĩnh Linh, ông chỉ thắp hương tại Đài tưởng niệm.

Ông Hà thắp hương tri ân liệt sĩ tại Đài tưởng niệm ở Nghĩa trang Liệt sĩ Vĩnh Linh.

Trong chuyến trở lại nghĩa trang cùng phóng viên, tra cứu danh sách lưu tại nghĩa trang mới biết liệt sĩ Hoàng Văn Dần đã được gia đình cất bốc về quê năm 1994, còn liệt sĩ Lê Phú Xuân được gia đình đưa về quê năm 2019.

Ông Hà cho biết, cha mình từng tham gia quân đội giai đoạn 1954-1964 trước khi trở về công tác tại địa phương. Chỉ vài tháng sau khi cùng con trai phát hiện và cất bốc phần mộ liệt sĩ Lê Phú Xuân, ông Nguyễn Trường Sơn qua đời vào năm 1990.

Trước lúc mất, ông vẫn để lại cuốn nhật ký ghi chép về những lần đi rừng và quá trình phát hiện các phần mộ liệt sĩ.

Cuốn nhật ký ấy đến nay đã úa màu theo thời gian, nhưng những dòng ghi chép trong đó vẫn góp phần lưu giữ một phần ký ức của chiến tranh và của hành trình đưa những người lính trở về với quê hương.

Gần bốn thập kỷ đã trôi qua, ông Nguyễn Thanh Hà vẫn đều đặn đến Nghĩa trang Liệt sĩ Vĩnh Linh thắp hương tưởng niệm.

Gần đây, ông cùng gia đình tiếp tục chia sẻ câu chuyện và những tư liệu còn lưu giữ lên mạng xã hội với mong muốn, nếu còn bất kỳ thân nhân nào chưa biết thông tin, họ sẽ có thêm cơ hội tìm lại người thân sau nhiều thập kỷ chia cách.

Tuy nhiên, từ thông tin cán bộ quản trang cung cấp, biết người thân đã đón các liệt sĩ trở về quê hương, ông bộc lộ sự vui mừng, mãn nguyện trước những cái kết đẹp, trọn vẹn. Ông Hà nói rằng đó cũng là ước nguyện của gia đình ông và người cha đã khuất luôn mong muốn liệt sĩ được trở về bên người thân của mình.

Với ông Hà, việc tình cờ phát hiện những phần mộ liệt sĩ năm nào không chỉ là ký ức của một đời người, mà đó còn là mối duyên đặc biệt giữa người ở lại và những người đã hy sinh vì Tổ quốc, góp phần nối lại những cuộc đoàn tụ sau hàng chục năm chia cách và thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" trên mảnh đất từng là chiến trường khốc liệt chiến tranh.

Đăng Đức

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ