🔍
Chuyên mục: Thời sự

Còn nhiều dư địa để bứt phá hợp tác đầu tư Việt Nam - Ấn Độ

9 giờ trước
Có nền tảng chính trị tốt, thương mại tăng nhanh, nhưng dòng vốn đầu tư hai chiều Việt Nam - Ấn Độ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Đây cũng đồng thời là dư địa lớn nhất của quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trong giai đoạn tới.

Đầu tư chưa theo kịp quan hệ chính trị, thương mại

Việt Nam và Ấn Độ đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2016. Trong 10 năm qua, quan hệ hai nước phát triển ngày càng sâu rộng. Trong đó, thương mại song phương tăng hơn 3 lần trong một thập niên (từ 5,4 tỷ USD năm 2015 lên 16,46 tỷ USD) và Ấn Độ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam.

Về đầu tư, báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho thấy, tính đến tháng 3/2026, các nhà đầu tư Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỷ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Quy mô dự án bình quân là 2,36 triệu USD/dự án, thấp hơn quy mô dự án bình quân chung là 11,7 triệu USD/dự án.

Nhà máy Đường Sơn Hòa (KCP) tại tỉnh Đăk Lăk với tổng vốn đầu tư đăng ký 94,5 triệu USD là dự án đầu tư lớn nhất của Ấn Độ tại Việt Nam. Nguồn: KCP

Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư Ấn Độ đã đầu tư vào 15/21 ngành kinh tế của Việt Nam. Vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 62 dự án và 643,3 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 54,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; đứng thứ hai là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí với 4 dự án, vốn đăng ký 157 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; thứ ba là lĩnh vực khai khoáng với 5 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 95 triệu USD, chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư.

Theo địa bàn đầu tư, các nhà đầu tư Ấn Độ đã đầu tư tại 20/34 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Dẫn đầu là TP. Hồ Chí Minh với 348 dự án, tổng vốn đầu tư 377,8 triệu USD (chiếm 32,1% tổng vốn đầu tư); thứ hai là tỉnh Đăk Lăk với 10 dự án, tổng vốn đầu tư 303 triệu USD (chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư); thứ ba là tỉnh Khánh Hòa với 2 dự án, tổng vốn đầu tư 94 triệu USD (chiếm 8,0% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các địa phương: Thanh Hóa, Tây Ninh, Nghệ An, Phú Thọ…

Một số dự án tiêu biểu có thể kể đến như: Dự án Nhà máy Đường Sơn Hòa tại tỉnh Đăk Lăk với tổng vốn đầu tư đăng ký 94,5 triệu USD - dự án lớn nhất của Ấn Độ tại Việt Nam; Dự án Công ty TNHH Cà phê Ngon tại tỉnh Đắk Lắk, tổng vốn đầu tư đăng ký 90 triệu USD; Dự án Nhà máy Điện mặt trời Infra 1, tổng vốn đầu tư 71,9 triệu USD tại tỉnh Khánh Hòa.

Về đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ, theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 3/2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.

Dư địa lớn từ khoảng trống đầu tư

Có thể thấy, sau 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, quan hệ hai nước phát triển ngày càng sâu rộng nhưng vẫn còn rất nhiều tiềm năng.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, FDI của Ấn Độ tại Việt Nam hiện vẫn khá khiêm tốn và chưa tương xứng với tiềm năng của một nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới. Quy mô và thứ hạng dòng vốn FDI trong bức tranh luồng vốn FDI vào Việt Nam đã cho thấy rõ điều đó.

“Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ (5 - 7/5) của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa rất quan trọng. Chuyến thăm này mang ý nghĩa lịch sử, khi lần đầu tiên một Tổng Bí thư, Chủ tịch nước của Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ. Đặc biệt chuyến thăm diễn ra không lâu sau khi Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp và Việt Nam kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Điều này thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với Ấn Độ, nước bạn bè thân thiết và Đối tác chiến lược toàn diện. Chuyến thăm cũng thể hiện rõ đường lối đối ngoại mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra, đó là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” - Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải cho biết.

Với 503 dự án và 1,117 tỷ USD, Ấn Độ chỉ đứng thứ 26/154 đối tác đầu tư. Quy mô bình quân 2,36 triệu USD/dự án, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình 11,7 triệu USD, phản ánh một đặc điểm: dòng vốn chủ yếu đến từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các dự án phân tán, thay vì các tập đoàn lớn dẫn dắt chuỗi giá trị. Điều này khác hẳn với mô hình FDI từ Hàn Quốc, Singapore hay Nhật Bản, nơi các “đầu tàu” tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh.

Việc 54,7% vốn tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy các nhà đầu tư Ấn Độ không chỉ dừng ở thương mại hay dịch vụ, mà đã tham gia vào khu vực sản xuất - phù hợp với định hướng thu hút FDI có chất lượng của Việt Nam. Bên cạnh đó, sự hiện diện trong lĩnh vực năng lượng (13,4%) và khai khoáng (8,1%) cũng phản ánh thế mạnh truyền thống của doanh nghiệp Ấn Độ trong các ngành công nghiệp cơ bản và tài nguyên.

Dù vậy, cơ cấu này vẫn chưa thực sự “hiện đại”. Việt Nam và Ấn Độ đều là hai trung tâm công nghệ đang lên, nhưng đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, dược phẩm hay dịch vụ IT - những ngành mà Ấn Độ có lợi thế toàn cầu - lại chưa nổi bật trong dòng vốn vào Việt Nam. Đây là một khoảng trống đáng chú ý.

Từ góc độ chiến lược, có thể thấy, quan hệ đầu tư Việt Nam - Ấn Độ hiện vẫn “đi sau” quan hệ chính trị - ngoại giao và thương mại. Hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, nhưng dòng vốn đầu tư chưa theo kịp. Theo một số chuyên gia, nguyên nhân không chỉ nằm ở môi trường đầu tư, mà còn ở sự thiếu kết nối giữa doanh nghiệp hai bên, khác biệt về mạng lưới chuỗi cung ứng và việc chưa có các “cú hích” chính sách đủ mạnh.

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng “Trung Quốc+1”, đây thực ra là một cơ hội lớn. Ấn Độ đang thúc đẩy chiến lược “Hành động hướng Đông”, còn Việt Nam đang cần đa dạng hóa nguồn FDI. Nếu tận dụng tốt, dòng vốn từ Ấn Độ có thể đóng vai trò bổ sung quan trọng, đặc biệt trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, dược phẩm, năng lượng tái tạo và công nghiệp hỗ trợ.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải, Ấn Độ là một trong ba đối tác đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016). Sau 10 năm, quan hệ hai nước đã phát triển toàn diện, thực chất và ngày càng đi vào chiều sâu, trở thành một trong những khuôn khổ hợp tác năng động và hiệu quả trong khu vực. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều dư địa hợp tác.

Đại sứ Nguyễn Thanh Hải cho rằng, hai bên cần tiếp tục đẩy mạnh trụ cột hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Trong đó, hai bên cần có những biện pháp mạnh mẽ để mở rộng thị trường cho nhau, gia tăng nhiều hơn nữa kim ngạch thương mại song phương tương xứng với quy mô của thị trường và nền kinh tế mỗi nước. Đồng thời hai bên đang có những cơ hội đầu tư lớn trong bối cảnh các doanh nghiệp của Việt Nam đang vươn lên và nhiều doanh nghiệp Ấn Độ đang quan tâm đến Việt Nam./.

Hà My

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ