Có số hiệu, con dấu vẫn có thể là văn bằng chứng chỉ không hợp lệ: Những bước cần kiểm tra
Những nội dung trên được đề cập tại Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT: Ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực kể từ ngày 15.4.2026.
Con dấu, số hiệu chưa đủ để xác thực văn bằng
Một văn bằng có đầy đủ con dấu, chữ ký và số hiệu vẫn có thể bị thu hồi, hủy bỏ nếu thuộc 1 trong 6 trường hợp được quy định tại Điều 16 của Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT.

Ảnh minh hoạ: AI
Cụ thể, văn bằng, chứng chỉ bị thu hồi, hủy bỏ nếu có gian lận trong tuyển sinh, học tập, thi cử, bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án hoặc gian lận trong việc làm hồ sơ để được cấp văn bằng; cấp cho người không đủ điều kiện; do người không có thẩm quyền cấp; bị tẩy xóa, sửa chữa nội dung; cho người khác sử dụng; hoặc do lỗi của cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng.
Đáng chú ý, quy định mới bổ sung trường hợp gian lận trong bảo vệ đồ án, khóa luận, luận văn, luận án. Như vậy, ngay cả người có quá trình học tập thực tế nhưng gian lận ở khâu bảo vệ cuối cùng vẫn có thể bị thu hồi văn bằng.
Do đó, việc một tấm bằng có phôi, con dấu hay số hiệu thật không đồng nghĩa văn bằng đó vẫn có giá trị pháp lý. Muốn xác thực, cần kiểm tra thông tin trong các nguồn dữ liệu gốc.
Bước 1: Tra cứu Cơ sở dữ liệu và VNeID
Theo Điều 19 và Điều 21 của Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, việc số hóa dữ liệu văn bằng được đặt vào vị trí quan trọng trong quá trình xác minh.
Khoản 3 Điều 21 quy định thông tin tra cứu từ Cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị pháp lý tương đương bản sao từ sổ gốc và thay thế việc xác minh văn bản trực tiếp.
Với cơ quan, đơn vị tuyển dụng, việc tra cứu dữ liệu giúp kiểm tra thông tin người học và tính chính danh của văn bằng thay vì chỉ kiểm tra hình thức của giấy tờ.
Với người dân, nếu thông tin trên hệ thống có sai lệch hoặc thiếu so với văn bằng giấy, có thể yêu cầu chỉnh sửa văn bằng theo Điều 15 để bảo đảm quyền lợi khi sử dụng dữ liệu trong các giao dịch pháp lý trên môi trường số.
Bước 2: Đối chiếu với Sổ gốc
Với những văn bằng cũ chưa được cập nhật dữ liệu số, Sổ gốc theo Điều 13 là căn cứ để kiểm tra thông tin văn bằng.
Sổ gốc lưu giữ các thông tin quan trọng, gồm năm tốt nghiệp và hình thức đào tạo; số hiệu và số vào sổ gốc; số định danh cá nhân; xếp loại và kết quả điểm bài thi; chữ ký duyệt và con dấu của cơ quan cấp.
Trong đó, số hiệu và số vào sổ gốc là thông tin định danh của văn bằng, còn số định danh cá nhân giúp kết nối thông tin văn bằng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Việc đối chiếu những thông tin này giúp kiểm tra xem văn bằng có thực sự gắn với đúng người học, đúng quá trình đào tạo và đúng thông tin được lưu trong hồ sơ gốc hay không.
Theo Điều 13, Khoản 4, cơ quan quản lý Sổ gốc có trách nhiệm bảo mật và cung cấp thông tin chính xác.
Không nên chỉ nhìn vào hình thức của tấm bằng
Từ các quy định trên, việc kiểm tra văn bằng cần chuyển từ cách nhìn vào hình thức sang đối chiếu dữ liệu. Một tấm bằng có con dấu, chữ ký và số hiệu vẫn chưa phải căn cứ duy nhất để khẳng định tính hợp pháp.
Với doanh nghiệp và cơ quan tuyển dụng, cần bổ sung bước tra cứu thông tin trên VNeID và Cơ sở dữ liệu vào quy trình thẩm định văn bằng.
Với người dân, cần chủ động kiểm tra thông tin văn bằng của mình trên hệ thống. Nếu phát hiện dữ liệu sai lệch, có thể thực hiện quyền yêu cầu chỉnh sửa theo Điều 15.
Như vậy, trong bối cảnh quản lý văn bằng được số hóa, việc xác thực không còn dừng ở việc kiểm tra một tờ giấy có dấu đỏ hay số hiệu hay không, mà phải đối chiếu với dữ liệu gốc để xác định giá trị pháp lý của văn bằng.
P.V
1 giờ trước
5 phút trước
16 phút trước
29 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
20 phút trước
21 phút trước
21 phút trước
28 phút trước
28 phút trước
28 phút trước