🔍
Chuyên mục: Tình yêu - Hôn nhân

Cô gái đi tìm tín vật tình yêu của người lính hy sinh

9 giờ trước
Theo cuốn 'Trở về trong giấc mơ', chị Lưu Liên đi tìm tín vật tình yêu của mình với anh Trần Minh Tiến. Mối tình cảm động của họ được tái hiện qua những bức thư và nhật ký.
00:00
00:00

Theo cuốn sách Trở về trong giấc mơ do NXB Chính trị Quốc gia Sự thật phát hành, đêm 1/6/1968, chị Lưu Liên mơ thấy người yêu mình, anh Trần Minh Tiến, mặc quân phục sạm đen khói súng. Phía sau lưng anh rừng rực lửa chưa tắt… Sáng dậy, kể với người thân, chị khóc hết nước mắt vì lo sợ có tin xấu. Ai cũng khuyên đó chỉ là cơn ác mộng.

Đó cũng là những chi tiết nhà văn Đặng Vương Hưng ghi chép theo lời kể, nhật ký và những bức thư của chị Vũ Thị Lui (thường gọi Lưu Liên), trong cuốn sách Nhật ký thời chiến Việt Nam.

109 bức thư của liệt sĩ Trần Minh Tiến gửi cho người yêu Lưu Liên được chị cất giữ. Ảnh: Sài Gòn Giải Phóng.

“Lưu Liên với anh lúc nào cũng đẹp… Không ai có thể chiếm đoạt trái tim anh ngoài em. Anh vĩnh viễn là của em. Nếu như anh không trở về nữa? Thì em cũng đừng quá buồn nản… Khi đó, chúng mình sẽ được gặp nhau trong những giấc mơ đẹp nhất của mỗi đời người”.

Những trang nhật ký cuối cùng liệt sĩ Trần Minh Tiến viết trước ngày đơn vị anh hành quân vào chiến trường miền Nam là dành cho người yêu Lưu Liên. Anh Trần Minh Tiến và chị Lưu Liên yêu nhau hơn 5 năm, nhưng chỉ gặp nhau không quá 20 lần. Hầu hết, họ gặp nhau trong những dòng nhật ký.

Theo lời nhà văn Đặng Vương Hưng kể trong sách Nhật ký thời chiến Việt Nam, nỗi nhớ đã khiến họ có nhiều giấc mơ về nhau. Từ ngày anh Trần Minh Tiến ra trận, Lưu Liên mơ thấy như mình cùng hành quân, thấy anh lội suối, vượt đèo, mắc võng ngủ trưa.

“Em hãy đến làng ấy… xã ấy… gặp anh Thuần để lấy tín vật!”, trích nội dung cuốn sách.

Đó là tín vật tình yêu mà hai người đã hẹn trước rằng, nếu chị nhận được tín vật từ tay người khác, nghĩa là anh đã nằm lại chiến trường, chị hãy tìm hạnh phúc khác.

Bừng tỉnh, 4h sáng, chị Lưu Liên “vùng dậy lấy xe đạp, một mình băng qua mấy cánh đồng lúa bạt ngàn, qua nhiều làng xóm còn yên ngủ, tiếng chó cắn đêm râm ran… Qua bãi ngô rộng, qua sông Đáy, lại qua một cánh đồng nữa thì tới huyện Thạch Thất, Hà Nội, gặp cây cầu rẽ trái, thấy làng đầu tiên rẽ phải, tới cây cổ thụ rẽ phải, tìm tới nhà gần bảng tin trắng, có cổng gạch to”, và gõ cửa…

Người mà chị Lưu Liên gặp là Đại đội trưởng Kiều Thuần. Đơn vị anh mới tập kết về làng này lúc quá nửa đêm, bà con dân làng còn chưa biết.

"Ta đã kết thúc mùa thu bằng ngày về bên em"

“Đó là một thanh niên người tầm thước, da ngăm đen, thân hình chắc nịch, tính sôi nổi, hay hát và hay cười. Cậu ấy có chiếc răng khểnh rất duyên…”, Trung đội trưởng Kiều Thuần nhớ về anh Trần Minh Tiến.

Tiến sinh ra trong gia đình nghèo nhất thị xã Hà Đông, Hà Nội xưa. Anh học rất giỏi, có năng khiếu văn nghệ - thể thao. Thời đi học, Tiến là hậu vệ xuất sắc, “linh hồn” của đội bóng Trường phổ thông Lê Hồng Phong từng “làm mưa làm gió” cả Hà Nội thời ấy.

Còn Lưu Liên là con gái của một trí thức Tây học, sau gia đình ông đi theo cách mạng. Lưu Liên học giỏi, hát hay, là tiểu thư được gia đình hết lòng yêu chiều. Cô là diễn viên đoàn văn công, nhiều người theo đuổi và ngưỡng mộ. Nhưng đôi mắt cô chỉ chú ý tới chàng thanh niên Trần Minh Tiến.

Chân dung liệt sĩ Trần Minh Tiến và chị Lưu Liên. Ảnh: Minh Châu.

Những ngày yêu nhau, họ thường đi dạo quanh phố phường Hà Nội. Anh Tiến ghi trong nhật ký rằng, anh nhớ mãi mùa thu bên Lưu Liên, “mùa thu đầy lá rụng hoa tàn, sương mờ, rét sớm…”.

Đêm trước ngày lên đường, họ ngồi trong nhà hàng Thủy Tạ bên Hồ Hoàn Kiếm, thủ thỉ mãi về những ước mơ và hạnh phúc.

Liên giục Tiến cưới… Nhưng Tiến không nghe, vì sợ mình sẽ hy sinh, sợ Liên góa bụa, lỡ làng và đau khổ.

Thay cho “tín vật” đính ước, Tiến tặng Liên chiếc nhẫn do chính tay anh làm bằng mảnh xác máy bay Mỹ, còn Liên tặng anh chiếc khăn tay trắng, có thêu hai bông hoa hồng màu tím.

Hai người mật ước với nhau rằng, nếu Liên nhận được chiếc khăn trên do người khác trao lại, nghĩa là Tiến đã không trở về và Liên hãy đi lấy chồng...

Tiến viết trong nhật ký: “Ta đã kết thúc mùa thu của ta bằng ngày về bên em. Ta đã sưởi ấm tim em vào những giờ lạnh giá nhất của tâm hồn...”.

Rồi đoàn tàu cuối cùng trong ngày rời ga Hà Nội, mang theo Tiến vào miền Trung của Tổ quốc.

Kỷ vật của liệt sĩ Trần Minh Tiến. Ảnh: Thể Thao Văn Hóa.

Trước mặt Tiến là những ngày dài, mỗi bước đường hành quân là mỗi bước thêm gian khổ. Đó là những ngày nắng cháy thịt da, đêm mưa tầm tã, rét tái tê, ai cũng phải đeo balo nặng, hành quân liên tục hàng trăm cây số, liên tục đào hầm hào, dựng lán trại, học tập chính trị, lao vào những trận chiến giả định với nhiều tình huống.

Tiến và các đồng đội được huấn luyện để trở thành những người lính ưu tú. Da thịt trở thành lớp “thép” nắng mưa không xuyên thủng, gân cốt trở thành loại “hợp kim” chế tạo bởi lò sương gió. Nhưng bên trong tấm thân “mình đồng cốt thép”, nơi yếu mềm nhất của trái tim, Tiến dành cả cho Lưu Liên.

Giữa những ngày vất vả, có phút nào được ngơi nghỉ, Tiến lại nghĩ tới Lưu Liên. Liên cứ trở đi trở lại trong những trang Tiến viết:

“Em ơi, anh luôn nghĩ cần phải cố lên, có sức để sau này được sống gần em… Ước gì ngày trở về sớm hơn, để ta có nhiều thời gian gần em. Ta sẽ nâng niu giấc ngủ cho em. Ta sẽ ghì chặt em trong ta để em được yên giấc".

“Chính những lúc này anh cũng ao ước được ôm em vào lòng để truyền cho nhau sức ấm. Không ai có thể lọt vào trái tim anh ngoài Lưu Liên. Em là người duy nhất ở trong anh từ lâu lắm rồi".

“Lưu Liên ơi! Thương nhớ quá, không sao nói hết được, mong thư luôn nhưng chẳng thấy. Thư ơi, sao làm ta chờ đợi mãi! Thư đã làm ta khó nghĩ và khó viết lên sự thật. Đêm nay thư vẫn chưa về. Thư còn xa ta lắm. Biết bao giờ mới thấy thư của em? Ta coi thấy thư như thấy bóng dáng Lưu Liên".

Tiến hay trăn trở về mối tình của mình, sợ rằng mình hy sinh sẽ làm Liên buồn. Anh từng có dự cảm rằng mình sẽ không trở về: “Chiến tranh thường đem tang tóc một cách đột ngột cho người lính. Biết sao được tương lai cuộc sống của ta sau này? Hãy nhìn thẳng sự thật, những máy bay kẻ cướp như những tên hung thần, như những con ác quỷ lăm le cướp đoạt cuộc sống chúng ta bất cứ lúc nào. Chỉ cần một mảnh bom rơi, một viên đạn lạc...".

Sự khốc liệt của cuộc chiến khiến Tiến luôn trăn trở về việc nói yêu và cưới Liên.

“Anh đã và đang chuẩn bị những lời nói với em từ lúc này, nhưng chỉ suy nghĩ và lắc đầu thôi. Anh không thể đồng ý với ý nào của anh vừa nghĩ ra cả. Anh thấy lương tâm anh luôn phẫn nộ đối với những ý nghĩ muốn nói của anh. Anh định nói... khổ lắm! Ngày về, anh không mang một tin vui nào cho em cả, mà toàn là tin buồn. Nỗi buồn dài dằng dặc và nó khắc sâu trong lòng người ta…”.

Trong những dòng nhật ký cuối cùng trước ngày đơn vị Tiến hoàn thành đợt huấn luyện, nhận lệnh ra chiến trường, Tiến đã gửi những lời động viên tới Liên, mà dường như cũng là nói với chính mình.

“Liên, em hãy tin rằng khi anh đi thì ngày khải hoàn sẽ không còn xa nữa. Thật đau khổ khi ta phải từ bỏ những ý định nóng hổi nhất. Nhưng biết làm sao trước nhiệm vụ ta phải dẹp tất cả lại để ra đi. Ta ra đi để làm đúng bổn phận, trách nhiệm của người lính”.

Tiến mang hình ảnh Liên trong tim như một động lực để anh giữ niềm hy vọng về sự sống.

“Riêng ta, sẽ mang theo bóng hình em mãi mãi. Ta coi đó là niềm tin, là nguồn sức mạnh để tồn tại và trở về. Ngay trong những đêm hành quân, vai dập, chân phồng, mắt thâm quầng, anh vẫn thấy em.

Liên, em là ánh sáng soi đường cho anh đi, là liều thuốc bổ giúp sức cho anh hoàn thành nhiệm vụ… Em đã hòa trong dòng máu của anh, đã in sâu trong tâm khảm anh...”.

Sách "Trở về trong giấc mơ" của NXB Chính trị quốc gia Sự thật và "Nhật ký thời chiến Việt Nam". Ảnh: Báo Thể Thao Văn Hóa.

Lời hẹn ước trong mơ

Theo lời thuật lại trong cuốn sách Nhật ký thời chiến Việt Nam, chị Lưu Liên kể rằng, ngay sau khi cảm nhận được người mình thương yêu nhất hy sinh, chị đau khổ và tiều tụy, nhưng vẫn không dám ghi điều ấy vào những trang nhật ký của mình, để hy vọng anh sẽ trở về.

Đầu năm 1969, khi gia đình nhận giấy báo tử và lễ truy điệu cho liệt sĩ Trần Minh Tiến được tổ chức trang trọng tại địa phương, chị Lưu Liên rất tuyệt vọng.

Để dịu vơi đi sự nhớ thương người yêu, chị bắt đầu viết thư gửi anh Tiến, để mỗi năm cứ đến ngày anh hy sinh, chị lại đem số thư mình viết được đốt đi.

Chị quan niệm làm như thế ở thế giới bên kia, nhất định anh ấy sẽ đọc được những lá thư đó. Và công việc này Lưu Liên vẫn làm đều đặn bền bỉ tới nay, kể cả khi đã có chồng con và gia đình hạnh phúc.

Khi tuổi về già, bà Lưu Liên vẫn giữ một hẹn ước trong giấc mơ với người yêu năm nào. Như lời cuối chàng trai trẻ năm đó đã nhắn gửi người yêu mình: “Nếu như anh không trở về nữa? Thì em cũng đừng quá buồn nản. Hãy tự hào vì anh đã ngã xuống vì quê hương và Tổ quốc!...".

Thúy Hạnh







Thuyết luân hồi
Giác ngộ 2 giờ trước




Home Icon VỀ TRANG CHỦ