Chuyện về Đáng

Minh họa: BH
-Chào khẩu đội, em là Đáng!
Tôi phát hoảng khi nhìn thấy Đáng, mặt già cấc, cái miệng có hàm răng đen như kiểu người ta nhuộm. Đôi mắt kèm nhèm như thể bị lông quặm, nhìn hiêng hiếng. Thằng Xuân “ba toác”, mấy hôm nay chờ có lính mới về để sai vặt, tỏ vẻ bực tức. Miệng làu bàu: - Lính với tráng, già nom như bố người ta ấy. Đáng xem chừng không nghe thấy gì, miệng nói to hơn: - Em chào khẩu đội!
Không muốn để Đáng ngại, tôi nói:
- Cất quân tư trang vào hầm, rồi tập “hiệp đồng khẩu đội”.
Đáng quê ở Hà Tây (cũ), tuổi cũng bằng tuổi anh tôi. Đi B không thấu, nằm ở trạm thu dung, rồi chuyển về đây. Đáng đã có vợ và 3 con rồi. Tuy lớn tuổi nhưng Đáng là lính mới nên xưng em với cả khẩu đội. Đáng thuộc loại siêng năng, đi lấy cơm và rửa bát luôn dành phần. Được cái mỗi lần đi tắm, người ta chỉ xách một xô nước còn hắn hai tay hai xô, leo dốc thở phì phò nhưng không dễ nản lòng, bỏ cuộc. Thấy hoàn cảnh của Đáng cũng khó khăn nên có đứa nào đụng đến là tôi đe nẹt. Nó cũng lính tráng như mình, chớ bắt nạt nhau. Mắt mũi kèm nhèm như Đáng cũng không thể đảm nhiệm các số chính bắt mục tiêu, chỉ làm số 6 tiếp đạn là phù hợp.
Tôi chú ý, Đáng không mấy khi nhận được thư. Lúc mọi người hỉ hả đọc thư, hắn ngồi ở sườn đồi, mặt buồn hiu. Một hôm, tôi thức trưa trên mâm pháo, định bụng làm cho xong bài thơ. Đáng rụt rè đến gần. Giọng rầu rĩ đến tội nghiệp. - Em... định nhờ... Khẩu trưởng một việc! Tôi định quát cho cậu một trận, hắn dám nhìn trộm mình “sáng tác”. Nhưng nhìn bộ mặt âu sầu của Đáng, lòng như thắt lại. - Có gì Đáng cứ nói... xem!
- Em nhờ anh viết hộ thư cho em có được không?
- Trời ơi! Tôi đang định gắt. Y hệt như mấy cậu lính trẻ trong khẩu đội muốn viết mấy dòng thư cho thật lâm li, sướt mướt để gửi về động viên, “hâm nóng” tình cảm với vợ.
Như hiểu được ý tôi, Đáng nói:
- Em không biết viết! Một câu nói thoảng qua như gió nhẹ mà khiến mắt tôi cay xè, lồng ngực nhoi nhói.
***
Tôi bất đắc dĩ trở thành người chép hộ thư cho Đáng. Nó cũng không diễn đạt cho hết tình cảm thương yêu gửi cho vợ. Mà tôi cũng không dám bịa ra những điều gì quá quắt, sợ làm xúc phạm đến vợ của Đáng. Đáng nhận được thư, vui lắm. Mắt nhấp nháy, cái miệng cười phô ra hàm răng đen kiểu các bà, các mẹ ở quê nhà. Tôi đọc cho Đáng nghe mà lòng xót xa. Chẳng biết vợ của Đáng có nói hết những điều yêu thương nhất của mình cho chồng hiểu không. Loay hoay với chuyện thư từ của Đáng, tôi cũng nguôi ngoai chuyện không vui của mình. Tôi nghĩ rất lung. Hay mình ngả hòm đạn thay cái bàn học dạy chữ cho Đáng, biết đâu sẽ giúp hắn có thể tự viết thư về cho vợ. Ý nghĩ ấy chưa kịp thực hiện, thì máy bay Mỹ lại gào rú trên bầu trời miền Bắc.
Giặc Mỹ cho máy bay B52 rải thảm bom xuống cây cầu Hàm Rồng. Không ai tin được điều đó cả. Nhưng sự thật lại xảy ra. Đêm đó là một đêm đặc biệt. Máy bay phản lực vào quần đảo. Hết ra rồi vào làm cho cánh lính khắp mặt trận mệt lừ. Nói thật, nếu bắt được mục tiêu của ra-đa, pháo cũng chỉ bắn được một điểm xạ. Rồi bắn chặn. Mà bắn chặn cũng chỉ đoán hướng đi của máy bay, căn cứ của tiêu đồ dẫn đường mà thôi. Bao nhiêu trận địa lộ hết, rất dễ cho máy bay địch đánh úp. Lúc đó, không ai nghĩ được gì nhiều, răm rắp quay pháo theo lệnh chỉ huy. Tôi đang dóng tai lên nghe chỉ thị từ giữa trận địa, Đáng kéo ghì tôi xuống, hắn khẽ nói:
- Em nghe tiếng ù... ù như xay lúa... chắc là B52... khẩu trưởng ạ!
- Bố láo! Có “tịt” đi không nào!
Tôi sợ mọi người nghe được sẽ dao động. Cái loại “pháo đài bay” ấy, những họng pháo trên trận địa này có dựng thẳng đứng cả nòng cũng làm sao bắn được? Tôi trộm nghĩ.
Nói thế nhưng tôi vẫn chạy ra hầm đại đội phó. Thấy tôi, ông gắt:
- Sao không chỉ huy khẩu đội, ra đây làm gì!
- Báo cáo... Tôi thì thầm nói lại cái ý của Đáng... dẫu rằng trong lòng bán tín bán nghi.
Nhưng B52 xuất hiện thật. Bom rải như gieo hạt từ Nam Ngạn, nhà máy điện và đến bờ công sự khẩu đội. Đất đá như trùm lên cả ngọn đồi. Chúng tôi bắn. Tôi không cắt nghĩa được hết mọi điều...
Cả khẩu đội thức để thông nòng, lau pháo, ai nấy đều mệt nhoài. Đáng vẫn nhanh nhẹn xuống dốc trận địa lấy cơm cho khẩu đội. Hắn tranh phần làm mọi việc cho mọi người tranh thủ ngủ lấy lại sức để chiến đấu.
***
Tôi đang thiu thiu giấc, thằng Xuân “ba toác” lay dậy:
- Thằng Đáng đào ngũ rồi khẩu trưởng ơi!
- Mày chỉ nói láo!
Cả đêm qua nó miệt mài lắp đạn cho pháo bắn. Bom bỏ ngay bờ công sự mà không biết sợ. Lẽ nào lại đào ngũ.
- Im cái mồm! Không được bép xép cái miệng mày! Tôi đe thằng Xuân “ba toác” nhưng tôi buồn quá.
Chuyện chẳng thể giấu. Không biết đứa nào ton hót mà đại đội biết, hỏi tôi:
- Thằng Đáng đi đâu mà không báo cáo!
- Em chưa kịp báo cáo ạ!
Từ bên ngoài, thằng Xuân hơn hớn cái miệng:
- Em xin xung phong đi bắt thằng Đáng ạ!
Nói rồi, thằng Xuân lại đề xuất, chẳng nề hà, chẳng giấu giếm: “Nếu thủ trưởng đồng ý, xin thủ trưởng cho phép em được đeo súng lục bên hông”. Sở dĩ, thằng Xuân “chấp niệm” một lần được đeo súng lục vì lòng nó vẫn luôn canh cánh lời hứa năm nào với các con, rằng: - Bố đi bộ đội ba năm sẽ lên cán bộ, có súng ngắn về làng. Nay vì chuyện thằng Đáng, nó nghĩ cơ hội được đeo súng lục của nó sẽ gần hơn một chút. Cái thằng Xuân “ba toác” ấy, miệng láu táu thế thôi nhưng thật tâm lắm. Xuân là cư dân bên bờ sông Hồng. Cái năm lụt to, chính Xuân đã dũng cảm bơi ra giữa dòng cứu được ba anh em trôi trên bè mảng. Bố mẹ ba đứa nhỏ bắt chúng quỳ lạy, xem Xuân như bố. Mặc dù lúc bấy giờ, Xuân chỉ hơn đứa lớn chừng năm, sáu tuổi. Lính tráng ở khẩu đội này là thế, mỗi cuộc đời mỗi số phận, mỗi câu chuyện riêng mà rất chung.
Về lời đề nghị của Xuân, tôi không hiểu mình nghĩ gì lúc ấy. Nhưng miệng nói rất quả quyết:
- Thôi, cứ để thêm vài hôm xem sao!
Mà quả thực, đến đêm thứ hai, thằng Xuân “ba toác” la lên, vừa như mừng rỡ vừa thoáng ngạc nhiên:
- Khẩu đội ơi! Thằng Đáng lên trận địa kìa!
***
Chuyện Đáng rời đơn vị, coi như xí xóa. Nó có công phát hiện ra B52, rồi quay về đơn vị. Không ai muốn làm to chuyện. Tôi được đại đội giao cho một việc nữa. Tranh thủ vào các giờ nghỉ trưa và chiều, tôi bố trí dạy bổ túc cho mấy người diện được dự nguồn cán bộ, chưa kịp học qua cấp một. Thật khổ, nói là họ mù chữ cũng phải. Lâu ngày không đụng đến sách vở nên ai nấy đọc còn ê a lắm. Tôi đành phải kiên nhẫn đọc chính tả cho họ chép. Không dám nặng lời, nói họ dốt, sợ quy cho quan điểm này nọ. Bực nhất là tay Đáng, không chịu ngủ trưa, ngồi ở hầm pháo như người ngủ gật. Tay nắm một mớ báo, tôi cười thầm trong bụng, biết đọc gì mà giữ món xa xỉ đó. Tôi cũng không muốn đuổi nó, có việc gì cũng tiện cho sai vặt.
Tôi ước chi mấy con chữ chui được vào bộ óc trì độn của nó. Để tôi khỏi phải chờ nó nói ra lời khi viết thư, đại ý như: Nhà có thột (dột) không mình ơi! Con Thóc đã vào lớp năm chưa. Thế nà (là) nhà mình không nợ công cày cấy. Trời mà thương, nại (lại) cho mùa dưa tốt... Anh chiến đấu, ở... Hàm Rồng... Nó tỏ vẻ thèn thẹn, dặn đi dặn lại:
- Thủ trưởng nhớ phải đề: Hàm Rồng,... ngày... tháng... năm... nhé!
Quái thật, cái lão này cũng sĩ diện ghê. Tôi vừa bực vừa buồn cười, nhìn cái tên lính vừa gọi mình là thủ trưởng, vừa “chỉ đạo” mình biên thư cho vợ hắn mà nén mấy câu chửi thề.
***
Thế rồi chuyện không hay đã xảy ra. Trong một trận đánh, địch ném bom vào trận địa. Lửa bốc cháy vào nơi để đạn dự trữ của khẩu đội. Đáng lao vào dập lửa. Không may lửa cháy xém cả mặt mày. Đạn được cứu nhưng Đáng bị bỏng nên phải cáng đi trạm xá. Đáng không muốn rời trận địa. Nó cười phô ra bộ răng xỉn. Em muốn được ở lại trận địa để chiến đấu. Thằng Xuân “ba toác” mau nước mắt khóc lên tu tu:
- Bố ơi! Kể con gái bố mà lớn, con xin được làm con rể của bố. Xin lỗi bố vì con đã coi thường bố!
- Mày chỉ bố láo! Tôi quát Xuân về cái tội hay hóng hớt.
Khẩu đội thấy thiêu thiếu một điều gì khi vắng Đáng. Thằng Xuân được giao đứng trên bờ công sự cảnh giới, nếu phát hiện ra máy bay, báo động cho đơn vị về cấp một. Cả trận địa đang im ắng, bỗng nghe giọng hắn hô lên:
- Có mục tiêu! Chỉ thiếu chút nữa là tôi báo động cho đơn vị có máy bay.
Nhưng Xuân kịp dịu giọng:
- Khẩu đội có khách!
Một người phụ nữ tay xách chiếc túi nhỏ và có cả lồng gà. Con gà kêu lên quang quác. Người phụ nữ rụt rè, hỏi:
- Em xin hỏi các thủ trưởng ạ!
- Có việc gì hả bác? Xuân mau mắn đáp lại
- Em muốn hỏi thăm đơn vị của anh Đáng ạ!
- Chị là...? Tôi hỏi lại.
- Vâng... Em nà (là) vợ anh Đáng! Em theo địa chỉ ghi trên lá thư rồi lần mò tìm đến đây ạ!
Đưa lá thư cho tôi xem như để chứng minh tính thành thật của câu chuyện, giọng người phụ nữ nghẹn lại:
- Anh ấy viết thư cho em nói anh bị thương...
Nước mắt chị trào ra. Tôi đoán, có lẽ, chị rơi nước mắt vì lần đầu tiên trong đời, chồng mình đã viết được những dòng chữ mạch lạc để thông báo tình hình:
Hàm Rồng, ngày... tháng... năm...
Em thương yêu! Anh báo cho em... Anh bị thương... nhẹ thôi nhưng anh vui... nắm (lắm )... nuôn (luôn )... vì đã cứu được đạn... Đồng đội tin... anh núc (lúc )...rớt lại trên đường đi B, đã nghe và biết được B52, để báo cho đơn vị... anh không phải là ... đào ngũ...mà muốn nói... điều ấy! Nếu em vào thăm anh nhớ đem theo mẹ gà, để nó gáy cho đỡ nhớ nhà.
Chồng em, bố của ba con Thóc, Sắn và Khoai -
Cù Như Đáng
Tôi bàng hoàng khi biết Đáng đã có thể tự mình viết được thư gửi về cho vợ. Kỳ lạ thật, trong mỗi con người đều có những sự phi thường, có dịp là bùng cháy. Tôi rất muốn nói với vợ Đáng một điều:
- Chồng của chị - anh Đáng là một người lính Hàm Rồng!
Truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh
27 phút trước
31 phút trước
3 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước