Chuyện về cây dong riềng

Cây dong riềng ở thôn Ngọc Liên, xã Cẩm Thạch.
Từ cây trồng thành sản phẩm hàng hóa
Qua những ngày tất bật thu hoạch dịp tết, từ độ tháng 2 đến tháng 4 là thời điểm bà con xã Cẩm Thạch xuống giống trồng dong riềng, chuẩn bị cho vụ thu hoạch năm sau. Cẩm Thạch, sau khi sáp nhập từ các xã Cẩm Thành, Cẩm Bình, Cẩm Thạch và Cẩm Liên (huyện Cẩm Thủy cũ) định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, trong đó cây dong riềng giữ vị trí quan trọng.
Thôn Tô, xã Cẩm Thạch - một trong những thôn gắn với trồng cây dong riềng từ xa xưa. Người dân trong thôn kể rằng từ khi còn nhỏ, họ đã quen với hình ảnh những luống dong riềng xanh mướt trên vườn đồi. Lớn lên, họ đi trồng, học cách chăm sóc, thu hoạch và làm miến dong. Nhiều gia đình trước đây trồng dong riềng chỉ để phục vụ nhu cầu trong nhà, làm quà biếu. Ông Phạm Ngọc Thuyết, thôn Tô, chia sẻ: “Tôi lớn lên với cây dong riềng. Thời trẻ, ăn miến thay cơm, rồi lớn lên lại trồng để giữ nghề của cha ông. Đó vừa là truyền thống, vừa để phát triển kinh tế”. Từ năm 2018, thôn Tô phục hồi nghề truyền thống làm miến dong, hướng tới sản phẩm sạch, an toàn. Từ mô hình tổ hợp tác thử nghiệm, HTX miến dong Đồi Ao được thành lập trong đó có vai trò quan trọng của ông Phạm Ngọc Thuyết, với mong muốn đưa sản phẩm ra thị trường và nâng cao giá trị kinh tế cho nông dân. Hiện HTX có 11 thành viên. Sản phẩm của HTX sản xuất miến dong Đồi Ao đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao của tỉnh Thanh Hóa, tạo việc làm ổn định cho lao động với thu nhập trung bình từ 5 đến 7 triệu đồng/tháng. Những thợ lành nghề hoặc làm khâu kỹ thuật có thể đạt 8 - 9 triệu đồng/tháng, chủ yếu là bà con trong thôn và các xã lân cận, tận dụng thời gian nhàn rỗi sau mùa đồng áng.
Ông Phạm Ngọc Thuyết chia sẻ: "Miến dong Cẩm Thạch nổi tiếng dai, giòn, không bết dính nhờ quy trình thủ công tỉ mỉ. Nguyên liệu chủ yếu là củ dong riềng đỏ, loại củ cho bột và sợi miến ngon nhất". Sau khi thu hoạch, củ được đem xay nghiền thành bột, rồi lọc qua nhiều lần nước để loại bỏ tạp chất và nhựa, giúp bột trắng và sạch hoàn toàn. Bột sau đó được hòa với nước thành hỗn hợp lỏng, tráng thành bánh mỏng tương tự bánh cuốn, rồi trải lên phên tre và phơi nắng tự nhiên. Khi bánh đạt độ dai nhất định, người thợ mới cắt thành sợi miến nhỏ. Không sử dụng hóa chất tẩy trắng hay chất bảo quản, miến giữ nguyên màu sắc tự nhiên của bột dong. Nhờ cách làm này, miến khi nấu vẫn dai, giòn, không bị bết dù nấu lại nhiều lần. “Làm miến không chỉ là kinh tế, mà còn là giữ nghề truyền thống của cha ông. Mỗi sợi miến là tâm huyết, là ký ức, là niềm tự hào của chúng tôi”, ông Phạm Ngọc Thuyết tâm sự.

Hiện nay xã Cẩm Thạch có 2 sản phẩm miến dong đạt OCOP 3 sao.
Ít ai nghĩ rằng, từ những củ dong riềng mộc mạc trên nương đồi, qua hàng chục công đoạn tỉ mỉ, lại có thể làm nên sản phẩm mang sinh kế cho hàng trăm hộ dân. Hiện nay, xã Cẩm Thạch có khoảng 150 hộ sản xuất miến dong quy mô tập trung và 200 hộ nhỏ lẻ. Hai sản phẩm đạt OCOP 3 sao là miến dong Thuận Tâm và miến dong Đồi Ao không chỉ là niềm tự hào của người dân mà còn chứng minh chất lượng sản phẩm đã được thị trường ghi nhận. Các vùng nguyên liệu cũng dần được hình thành gắn với từng cơ sở sản xuất, như: thôn Tô khoảng 5ha phục vụ sản xuất miến dong Đồi Ao; các thôn Ngọc Liên, Ninh Sơn, Thạch Minh, Thạch An, Trảy... khoảng 52ha phục vụ miến dong Thuận Tâm. Mỗi năm, sản lượng miến dong đạt khoảng 800 tấn, giá bán dao động từ 50.000 đến 120.000 đồng/kg, tạo việc làm cho khoảng 400 lao động, trong đó 80 lao động thường xuyên và 320 lao động thời vụ.
Ông Bùi Văn Vinh, trưởng thôn Ngọc Liên, cho biết: “Trước đây, bà con trồng dong riềng chủ yếu để dùng trong nhà, quy mô nhỏ lẻ. Nhưng khi nhu cầu thị trường tăng, cây dong riềng được mở rộng diện tích, từng bước trở thành cây hàng hóa. Giờ đây, sản phẩm OCOP đã giúp người dân yên tâm sản xuất, nâng cao thu nhập”. Toàn thôn Ngọc Liên có 283 hộ với khoảng 1.200 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm 90%. Diện tích đất trồng dong riềng duy trì ổn định khoảng 30ha mỗi năm, góp phần tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các cơ sở sản xuất. Bà con tự hào khi thôn Ngọc Liên có sản phẩm của HTX miến dong Thuận Tâm là sản phẩm OCOP.
Giải pháp gỡ khó và hướng đi bền vững
Mỗi năm, hàng trăm tấn miến dong được làm ra, mang lại sinh kế, nâng cao đời sống, góp phần khẳng định vị thế của cây dong riềng trong nền kinh tế địa phương. Cây dong riềng không còn là loại cây quen thuộc chỉ để dùng trong gia đình mà còn trở thành “đòn bẩy” kinh tế của Cẩm Thạch. Từ một nghị quyết đến thực tiễn, từ những luống dong riềng trên nương đồi đến các sản phẩm OCOP 3 sao trên thị trường là minh chứng khi người dân đồng lòng, khi truyền thống được kết hợp với hướng đi kinh tế bền vững, giá trị đất đai và cuộc sống người dân sẽ từng bước được nâng lên. Bà con nông dân Cẩm Thạch cũng chia sẻ niềm vui khi thấy giá trị cây dong riềng ngày càng được nâng lên, thu nhập cải thiện, đồng thời góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hiện còn 0,73% và cận nghèo 2,66% trên toàn xã.

Từ cây dong riềng tạo nên sản phẩm miến dong truyền thống của quê hương Cẩm Thạch.
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Cẩm Thạch nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết số 02-NQ/ĐU ngày 19/8/2025 của Đảng ủy xã Cẩm Thạch xác định, phát triển kinh tế dựa trên khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế địa phương; đẩy mạnh nông nghiệp hàng hóa theo hướng tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ. Trong cơ cấu cây trồng, bên cạnh lúa, ngô, mía, dong riềng được nhìn nhận là cây có nhiều dư địa phát triển. Thực tế cho thấy, nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất miến dong tại địa phương vẫn chưa đủ, một phần phải nhập từ các tỉnh khác. Điều này mở ra cơ hội để mở rộng diện tích, nâng cao giá trị kinh tế ngay trên chính đồng đất của Cẩm Thạch. Với quỹ đất đồi bằng và diện tích đất trồng hàng năm còn khá dồi dào, việc chuyển đổi từ những cây trồng hiệu quả thấp sang dong riềng không chỉ phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng mà còn giúp nâng cao thu nhập, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà nghị quyết đã đề ra.
Dù có nhiều tiềm năng, việc phát triển cây dong riềng vẫn gặp khó khăn như diện tích vùng trồng chưa rộng, lực lượng lao động chủ yếu là người lớn tuổi, chi phí nhân công ngày càng cao. Để tháo gỡ, địa phương đang tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết, đó là hình thành các nhóm hộ, tổ hợp tác, HTX từ trồng trọt đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây là bước đi phù hợp để cây dong riềng không chỉ dừng lại ở một loại cây quen thuộc, mà trở thành ngành hàng có chỗ đứng vững chắc.
Bài và ảnh: Ngọc Huấn
3 giờ trước
7 giờ trước
10 giờ trước
4 giờ trước
6 giờ trước