🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn: Hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng

8 giờ trước
Chuyển từ trồng keo chu kỳ ngắn sang phát triển rừng gỗ lớn đang mở ra hướng đi mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng. Không chỉ nâng giá trị gỗ và cải thiện sinh kế, mô hình còn góp phần giữ đất, nguồn nước, hấp thụ các-bon và tăng khả năng chống chịu trước thiên tai.

Năm 2026, Đà Nẵng dành khoảng 13,5 tỷ đồng triển khai chính sách hỗ trợ phát triển rừng sản xuất gỗ lớn.

Từ rừng keo ngắn ngày đến rừng gỗ lớn

Sau sáp nhập, Đà Nẵng có khoảng 745.027 ha rừng và diện tích đã trồng cây rừng, trong đó rừng trồng khoảng 241.639 ha. Diện tích rừng trồng đã hình thành rừng đạt 188.099 ha, còn 53.540 ha đã trồng nhưng chưa đủ tiêu chí công nhận thành rừng. Đây là dư địa lớn để thành phố phát triển vùng nguyên liệu gỗ hợp pháp, có chứng chỉ, phục vụ chế biến sâu.

Tuy nhiên, phần lớn rừng trồng hiện vẫn được khai thác sau 4-5 năm, chủ yếu để sản xuất dăm gỗ. Cách làm này giúp người dân nhanh thu hồi vốn nhưng sản phẩm có đường kính nhỏ, giá trị thấp, khó đáp ứng nhu cầu chế biến đồ gỗ, nội thất và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Việc khai thác rồi trồng lại liên tục cũng tạo áp lực lên đất, nguồn nước và hệ sinh thái, nhất là tại những khu vực địa hình dốc. Do đó, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ đơn thuần kéo dài chu kỳ khai thác mà còn là sự thay đổi phương thức sản xuất, từ bán nguyên liệu thô sang nuôi dưỡng cây lâu hơn, nâng chất lượng gỗ và hướng đến chế biến sâu.

Theo ngành lâm nghiệp, rừng gỗ lớn được chăm sóc, quản lý phù hợp có thể mang lại giá trị kinh tế cao hơn khoảng 2-3 lần so với rừng trồng chu kỳ ngắn. Khi cây có thời gian sinh trưởng dài, đường kính và chất lượng gỗ tăng, tỷ lệ gỗ xẻ cao hơn, qua đó mở rộng khả năng sử dụng trong chế biến.

Bên cạnh giá trị kinh tế, rừng được duy trì lâu năm còn góp phần hấp thụ các-bon, bảo vệ đất, giữ nước, duy trì đa dạng sinh học và giảm tác động của thời tiết cực đoan. Vì vậy, hiệu quả của rừng gỗ lớn cần được nhìn nhận đồng thời ở các khía cạnh kinh tế, sinh kế và môi trường.

Định hướng phát triển rừng gỗ lớn được Thành ủy Đà Nẵng xác định tại Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 6-4-2026. Đến năm 2030, thành phố phấn đấu phát triển ít nhất 45.000 ha rừng trồng gỗ lớn, năng suất bình quân 20m³/ha/năm; trồng khoảng 4.600 ha rừng gỗ lớn bằng cây bản địa; duy trì ít nhất 30.000 ha rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Thành phố cũng đặt mục tiêu hình thành 10-15 nhóm hộ quản lý rừng bền vững, đưa hơn 70% sản lượng gỗ khai thác vào chế biến sâu và duy trì tỷ lệ che phủ rừng 54%.

Để hỗ trợ người dân chuyển đổi, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 11/2/2026 quy định hỗ trợ tín dụng và hỗ trợ chi phí đối với trồng rừng sản xuất gỗ lớn bằng cây gỗ, cây đa mục đích thuộc diện chính sách, không gồm keo và bạch đàn, với mức hỗ trợ 55 triệu đồng/ha/chu kỳ cho giống, phân bón và nhân công trồng, chăm sóc.

Năm 2026, thành phố bố trí khoảng 13,5 tỷ đồng thực hiện chính sách; phê duyệt hỗ trợ 215 hộ gia đình, cá nhân trồng 227 ha rừng gỗ lớn. Đây là nguồn lực quan trọng giúp người dân giảm áp lực vốn trong những năm đầu, khi rừng chưa tạo ra thu nhập.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Trần Út, chuyển sang rừng gỗ lớn còn tạo điều kiện phát triển sinh kế dưới tán rừng. Tùy điều kiện, người dân có thể kết hợp cây dược liệu, cây ngắn ngày hoặc cây đa mục đích để có thêm nguồn thu trong thời gian chờ cây gỗ lớn trưởng thành.

Tại xã Đông Giang, ông Bnướch Ngang, người Cơ Tu ở thôn A Duông, đã chuyển gần 1ha sang trồng rừng gỗ lớn. Gia đình ông hiện có gần 3 ha rừng, trong đó có quế và lim. Sau khoảng 5 năm, cây sinh trưởng tốt, mở ra kỳ vọng về hiệu quả kinh tế cao hơn so với keo chu kỳ ngắn.

Ông Bnướch Ngang, thôn A Duông, xã Đông Giang đã chuyển đổi gần 1 ha diện tích rừng sang trồng cây gỗ lớn.

Tại xã Sông Kôn, ông Bríu Tư đã chuyển gần 3 ha keo sang trồng quế và dổi. Ông cho biết nhờ được tuyên truyền, phổ biến chính sách, hỗ trợ cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật, gia đình mạnh dạn thay đổi phương thức sản xuất.

Sông Kôn hiện có hơn 1.500 ha rừng gỗ lớn và đang hướng tới hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Tại các xã phía Tây Nam như Lãnh Ngọc, Tiên Phước, Trà Vân, Nam Trà My… người dân cũng từng bước chuyển từ keo sang cây lâu năm, cây ăn quả và các loại cây gỗ lớn như huỳnh, giổi xanh, lát hoa, sao đen.

Những mô hình này cho thấy, khi lợi ích kinh tế được nhìn thấy rõ và có chính sách đồng hành, người dân có thêm động lực để giữ cây lâu hơn, nâng cao giá trị rừng.

Trồng rừng gỗ lớn vừa nâng giá trị kinh tế, cải thiện sinh kế, vừa tăng khả năng bảo vệ đất, giữ nước và giảm thiểu tác động của thiên tai.

Liên kết để giữ rừng, giảm rủi ro thiên tai

Chu kỳ dài là một trong những trở ngại lớn nhất đối với rừng gỗ lớn. Người dân phải chờ nhiều năm mới thu hồi vốn, trong khi rừng có thể chịu tác động của bão, lũ, cháy, sâu bệnh và biến động thị trường. Vì vậy, phát triển rừng gỗ lớn cần một chuỗi liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người trồng rừng để cùng chia sẻ vốn, kỹ thuật, chi phí và rủi ro.

Tại HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận, xã Hiệp Đức, diện tích rừng có chứng chỉ FSC tăng từ 239 ha với 54 hộ lên 1.558 ha với 273 hộ tham gia liên kết. HTX hỗ trợ cây giống, kỹ thuật, tập huấn quản lý rừng bền vững, đánh giá chứng chỉ và kết nối tiêu thụ sản phẩm.

Đối với những lô rừng từ 5 tuổi trở lên, hộ dân được mượn khoản vốn tương đương 30% giá trị lô rừng, không tính lãi, để tiếp tục chăm sóc thay vì khai thác sớm. Khi đến kỳ khai thác, sản phẩm được HTX thu mua cao hơn giá thị trường khoảng 5-7%. Cơ chế này tạo thêm nguồn lực để người dân giữ rừng lâu hơn.

Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Lâm nghiệp Quảng Nam cũng liên kết với hộ dân tại 8 xã, thực hiện quản lý nhóm hộ, lập kế hoạch, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật, duy trì chứng chỉ và kết nối thị trường. Đơn vị đã tổ chức hơn 183 lớp tập huấn, 64 cuộc hội thảo; diện tích được đánh giá, cấp chứng chỉ đạt 8.117 ha với 1.345 hộ tham gia.

Trên địa bàn thành phố, hơn 33.000 ha rừng đã được cấp chứng chỉ FSC, VFCS/PEFC, với hơn 6.500 hộ dân cùng các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia. Chứng chỉ giúp nâng giá trị gỗ, đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.

Không chỉ mang lại giá trị kinh tế, rừng gỗ lớn còn đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống thiên tai. Tại khu vực miền núi, hệ rễ phát triển và thảm thực vật được duy trì lâu dài giúp giữ đất, giữ nước, hạn chế dòng chảy mặt và xói mòn. Việc giảm khai thác trắng cũng góp phần bảo vệ nguồn sinh thủy, duy trì độ che phủ và hạn chế xáo trộn đất trên địa hình dốc.

Tại HTX Nông nghiệp Hiệp Thuận, hơn 500 ha đã được hỗ trợ trồng cây bản địa, ưu tiên khu vực bờ lô và những nơi có nguy cơ sạt lở. HTX đặt mục tiêu đến năm 2030 trồng cây bản địa quanh bờ lô trên toàn bộ diện tích rừng tham gia chứng chỉ FSC.

HTX cũng xây dựng quỹ phòng ngừa rủi ro rừng trồng, với mức đóng góp tự nguyện 200.000-400.000 đồng/ha/năm. Hộ bị thiệt hại từ 30% trở lên do thiên tai được hỗ trợ theo quy chế. Năm 2023, HTX phối hợp thí điểm bảo hiểm gió bão cho 154 ha rừng của 40 hộ.

Những mô hình này cho thấy muốn người dân giữ rừng lâu hơn, chính sách hỗ trợ cần đi cùng vốn, kỹ thuật, chứng chỉ, đầu ra và cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi sinh kế được bảo đảm, người trồng rừng sẽ có thêm điều kiện chờ cây đạt giá trị cao nhất thay vì phải khai thác sớm.

Phát triển rừng gỗ lớn vì thế không chỉ là câu chuyện nâng giá trị một hecta rừng. Đây còn là hướng chuyển đổi nền lâm nghiệp Đà Nẵng theo hướng bền vững, tạo vùng nguyên liệu chất lượng cho chế biến sâu, nâng thu nhập cho người dân miền núi, đồng thời giữ đất, nguồn nước, duy trì độ che phủ và tăng khả năng chống chịu thiên tai./.

Thùy Duyên - Kim Vương

TIN LIÊN QUAN


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ