Chuyện học xưa & nay: Vị Tiến sĩ làm quan vì mẹ, hi sinh vì dân trí

Trần Quý Cáp là một trong 6 học trò nổi bật của Đốc học Trần Đình Phong tại trường Thanh Chiêm. Ảnh: ITN
Trần Quý Cáp tên thật là Trần Nghị, sinh năm Canh Ngọ (1870) tại thôn Thái La, làng Bất Nhị, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Điện Bàn Tây, thành phố Đà Nẵng). Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nhưng hiếu học, coi chữ nghĩa như con đường duy nhất để đổi thay số phận.
Từ học trò Thanh Chiêm đến trí thức Duy Tân
Ngay từ nhỏ, Trần Nghị đã nổi tiếng thông minh, ham học và có tư chất hơn người. Trong bối cảnh xã hội nông thôn xứ Quảng cuối thế kỷ 19, việc một cậu bé nhà nghèo miệt mài đèn sách không chỉ là ước mơ cá nhân, mà còn là kỳ vọng của cả gia đình và dòng tộc. Thấy Trần Nghị học giỏi, Đốc học Trần Đình Phong (người phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) đã đưa về trường tỉnh Thanh Chiêm. Trần Nghị được cấp học bổng và được đổi tên thành Trần Quý Cáp từ đó.
Hàng tháng nhà trường định kỳ giảng sách cho học sinh, quan Đốc học vừa trông coi việc học cả tỉnh, vừa tham gia giảng tập. Đến ngày giảng sách “Học quan mặc áo khăn ngồi trên nhà học, học trò mặc áo khăn ngồi im lặng nghe giảng”. Thỉnh thoảng, quan Đốc học cũng mở các buổi giảng tập về những điều cao siêu trong ý nghĩa kinh sách.
Vào các ngày mùng 3, mùng 9, 17, 25 mỗi tháng, quan Đốc học ra đầu bài, học sinh đem về nhà làm đến kỳ hạn nộp bài (gọi là văn kỳ) hoặc làm ngay tại trường, trong một ngày phải xong (gọi là văn nhật khắc). Sau khi chấm, học sinh đến trường để nghe quan Đốc học nhận xét về các bài làm hoặc bình những đoạn văn hay, những bài đặc sắc.
Dưới sự dìu dắt của thầy, Trần Quý Cáp sớm bộc lộ tư duy sắc sảo, khả năng lập luận và tinh thần phản biện hiếm thấy ở một nho sinh trẻ. Đương thời, ông là một trong 6 học sinh lỗi lạc trường Thanh Chiêm, cùng với Phạm Liệu, Nguyễn Đình Hiến, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Phan Quang.

Chân dung Tiến sĩ - chí sí Trần Quý Cáp. Ảnh: ITN.
Cũng tại ngôi trường này, ông gặp gỡ và kết giao với những nhân vật sau này trở thành trụ cột của phong trào Duy Tân. Tình bạn, tình đồng chí hình thành từ những ngày đèn sách ấy đã trở thành mối dây gắn kết bền chặt trong suốt hành trình dấn thân của họ.
Khác với nhiều bạn đồng khoa sớm đỗ đạt, con đường khoa cử của Trần Quý Cáp khá gian truân. Ông nhiều lần dự thi nhưng không đạt kết quả, trong khi các bạn đồng môn người thì đỗ Tiến sĩ, kẻ thì đậu Phó bảng hay Cử nhân thì ông vẫn chỉ là một anh Tú tài.
Có thời gian, vì gia cảnh khó khăn và cha mất sớm, ông phải tạm gác việc học để đi dạy, kiếm sống và phụng dưỡng mẹ già. Chính quãng đời long đong ấy đã giúp ông thấu hiểu sâu sắc hơn nỗi cơ cực của dân chúng và những bất cập của xã hội đương thời.
Mãi đến năm 1904, Trần Quý Cáp mới được đặc cách dự thi Hội và thi Đình, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Tuy nhiên, đối với Trần Quý Cáp, học vị Tiến sĩ không phải là đích đến, mà chỉ là phương tiện để ông có tiếng nói và vị thế xã hội nhằm thực hiện những lý tưởng lớn hơn. Vì vậy, sau khi đỗ đạt ông không ra làm quan mà cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng dựng cờ Dân quyền, khởi xướng sự nghiệp Duy Tân “tự gánh trách nhiệm bài xích cử nghiệp, đề xướng tân học”.

Khu mộ phần chí sĩ Trần Quý Cáp tại quê hương phường Điện Bàn Tây (TP Đà Nẵng). Ảnh: ITN.
Làm quan để duy tân giáo dục
Ngay từ khi còn là nho sinh, Trần Quý Cáp đã sớm nhận ra sự khủng hoảng của xã hội phong kiến và sự bế tắc của con đường cứu nước bằng khoa cử truyền thống. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng cải cách của các trí thức đương thời, đặc biệt là quan điểm của Phan Chu Trinh về dân quyền, dân trí và cải cách xã hội. Với Trần Quý Cáp, muốn cứu nước trước hết phải cứu dân, mà cứu dân thì không thể thiếu giáo dục.
Khác với những xu hướng bạo động hay cầu viện ngoại bang, phong trào Duy Tân chủ trương cải cách từ gốc rễ xã hội, mở mang dân trí, thức tỉnh tinh thần dân tộc, cải thiện đời sống kinh tế. Khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” không chỉ là lời kêu gọi, mà được cụ thể hóa bằng những hoạt động thực tiễn, trong đó Trần Quý Cáp đóng vai trò đặc biệt nổi bật.
Trong phong trào Duy Tân, Trần Quý Cáp được xem là người thầy đúng nghĩa. Ông đi khắp các làng quê diễn thuyết, mở lớp học, truyền bá tư tưởng mới cho thanh niên và dân chúng. Nội dung giảng dạy của ông không còn bó hẹp trong kinh điển Nho giáo, mà mở rộng sang chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học, lịch sử thế giới và các vấn đề xã hội. Ông phê phán gay gắt lối học từ chương, coi đó là nguyên nhân khiến dân tộc trì trệ và yếu kém.
Đối với Trần Quý Cáp, giáo dục không chỉ nhằm đào tạo quan lại, mà trước hết là để hình thành những con người tự do về tư tưởng, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Ông khuyến khích học trò học nghề, làm kinh tế, tham gia vào các hội buôn, hội nông - là những mô hình kinh tế, xã hội mới mẻ thời bấy giờ. Chính vì vậy, ảnh hưởng của ông không chỉ giới hạn trong giới trí thức, mà lan tỏa rộng trong dân chúng, khiến chính quyền thực dân lo ngại.

Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Thìn (1904) ghi danh Tiến sĩ Trần Quý Cáp - tại Văn Thánh Miếu Huế. Ảnh: ITN.
Dù không mặn mà với quan lộ, năm 1906, Trần Quý Cáp vẫn nhận chức Giáo thụ phủ Thăng Bình. Châu bản ngày 5 tháng 7 năm Thành Thái thứ 18 (1906) của Lại bộ cho biết: “Ngày 21 tháng 5 năm nay, nhận được tờ tư của Tổng đốc Nam Ngãi Hồ Đệ trình rằng: Chức Giáo thụ phủ Thăng Bình thuộc hạt hiện khuyết. Xét có đồng Tiến sĩ Trần Quý Cáp xin về dạy học để tiện chăm sóc cha mẹ là người cần mẫn, văn học đáng khen, được sĩ tử lấy làm tấm gương, xin đưa viên ấy bổ làm Giáo thụ phủ ấy”.
Quyết định “làm quan” của Trần Quý Cáp phần lớn xuất phát từ hoàn cảnh gia đình và chữ hiếu với mẹ già. Theo Trần Huỳnh Sách thì: “Tiên sinh không muốn đi, nhưng thân bằng lấy sự nhà nghèo và mẹ già khuyến khích mãi, tiên sinh mới đi”. Về việc này, trong bài thơ khóc Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng cũng viết: “Làm quan vì mẹ há vì tiền”.
Đối với Trần Quý Cáp, chức quan không phải là mục tiêu, mà là điều kiện để ông tiếp tục con đường giáo dục và cải cách. Ông biến chức “học quan” thành cơ hội để duy tân giáo dục, hợp pháp hóa việc dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá tân học, biến ngôi trường của chính quyền theo lối học khoa cử cũ thành ngôi trường của Duy Tân theo lối học mới.
Trên cương vị Giáo thụ, ông đưa bài “Chiêu hồn nước” là bài ca khuyến học thể hiện tư tưởng và tinh thần đổi mới: “Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tỉnh trước dân ta”; hay: “Một người học, muôn người đều biết/ Trí đã khôn, trăm việc phải hay/ Lợi quyền đã nắm trong tay/ Có ngày tấn hóa, có ngày văn minh”.
Ông đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, mời những người biết chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp tham gia giảng dạy, thu hút hàng trăm học sinh theo học. Trường học dưới sự điều hành của ông nhanh chóng trở thành một trung tâm truyền bá tư tưởng Duy Tân. Điều này khiến giới quan lại bảo thủ và chính quyền thực dân không khỏi e ngại, bởi giáo dục mà ông thực hiện không chỉ truyền dạy tri thức, mà còn khơi dậy tinh thần phản biện và ý thức dân tộc.

Bia đá tại đền thờ chí sĩ Trần Quý Cáp tại tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: ITN.
Tinh thần dấn thân và lý tưởng giáo dục
Trước ảnh hưởng ngày càng lớn của Trần Quý Cáp tại Quảng Nam, cuối năm 1907 chính quyền quyết định điều chuyển ông vào Khánh Hòa làm Giáo thụ Ninh Hòa. Đây thực chất là biện pháp hành chính nhằm tách ông khỏi môi trường hoạt động quen thuộc, đồng thời đặt ông dưới sự giám sát chặt chẽ hơn.
Trong bản tấu ngày 27 tháng 12 năm Duy Tân thứ nhất (1907) của Lại bộ trình rõ: “Vâng xét viên Giáo thụ phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam Trần Quý Cáp là người tỉnh ấy, nhận được quý tòa Khâm sứ nói rằng nên hoán bổ tỉnh khác. Viên đó xin đổi bổ chức Giáo thụ phủ Ninh Hòa”. Đặc biệt, phần cuối châu bản còn trình rõ ý của Khâm sứ đại thần Lévecque: “Tựu trung Trần Quý Cáp nếu không an phận thủ thường sẽ xét cho về”.
Tuy nhiên ở bất cứ nơi đâu, Trần Quý Cáp vẫn giữ vững tinh thần dấn thân và lý tưởng giáo dục. Ông tiếp tục giảng dạy, diễn thuyết và giao lưu với nhân sĩ địa phương. Chính sự kiên định ấy đã khiến ông trở thành cái gai trong mắt chính quyền, nhất là khi phong trào chống thuế, chống sưu bùng nổ mạnh ở Trung Kỳ năm 1908.
Dù Trần Quý Cáp không trực tiếp tham gia hay lãnh đạo phong trào này tại Khánh Hòa, ông vẫn bị bắt giữ với cáo buộc “mưu phản đại nghịch”. Thực chất, đây là một bản án chính trị nhằm triệt tiêu ảnh hưởng của một trí thức có tư tưởng cải cách và khả năng thức tỉnh quần chúng.

Đền thờ chí sĩ Trần Quý Cáp tại tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: ITN.
Nội dung bản tấu ngày 4 tháng 5 năm Duy Tân thứ 2 (1908) của Binh bộ cho biết: “Ngày 13 tháng trước nhận được tư văn của quan tỉnh Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát trình rằng: Đã nhận được tư văn của Chính phủ nói dân hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi tụ tập đòi xét giảm tiền sưu. Hạt ấy tư mong tăng cường tuần phòng nghiêm ngặt, ngăn chặn, lùng bắt. Và gần đây ngài Công sứ ở tỉnh (Khánh Hòa) bàn việc cùng rà bắt viên Giáo thụ Trần Quý Cáp ở Ninh Hòa và tra xét các trường ấu học, thầy dạy, thân sĩ, hương lí tình nghi”.
Châu bản triều Nguyễn nhắc tới bản án Trần Quý Cáp như sau: “Ngày 19 tháng trước nhận được bản án do tỉnh Khánh Hòa đệ trình, ghi rằng: Trần Quý Cáp là người đỗ đạt trong khoa giáp lại dám mưu đồ làm phản. Trước đây cùng bọn Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Hoàng Thượng Trung câu kết với người nước ngoài âm mưu phản nghịch. Nay lại ngấm ngầm tàng trữ giấy tờ của bọn giặc... Vậy xin theo luật “Mưu phản đại nghịch” xử Trần Quý Cáp bị lăng trì xử tử… Vậy xin theo luật này, xử Trần Quý Cáp bị chém ngay, miễn tội lăng trì”.
Cái chết của Trần Quý Cáp không dập tắt phong trào Duy Tân, mà ngược lại càng làm bùng lên tinh thần đấu tranh và khát vọng đổi mới trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông được hậu thế nhìn nhận không chỉ là một chí sĩ yêu nước, mà còn là một nhà giáo dục khai sáng, người đã đặt nền móng cho tư tưởng giáo dục hiện đại ở Trung Kỳ.
Dù cuộc đời ngắn ngủi, Trần Quý Cáp đã để lại một di sản tinh thần sâu sắc, nhắc nhở các thế hệ sau về trách nhiệm của trí thức đối với vận mệnh quốc gia. Ông xứng đáng được ghi nhớ như một trong những ngọn lửa đầu tiên thắp sáng con đường canh tân và tự cường của dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, tên tuổi Trần Quý Cáp được đặt cho nhiều trường học, đường phố trên cả nước. Mộ phần của ông tại phường Điện Bàn Tây được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2000, trở thành địa chỉ đỏ trong giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần dân tộc.
Ngày 17/5/1908, Trần Quý Cáp bị đưa ra bãi sông Cạn (Ninh Hòa) và xử trảm. Ông ra đi khi mới 38 tuổi, để lại nỗi tiếc thương sâu sắc trong giới sĩ phu và nhân dân. Khi ra pháp trường ông vẫn ung dung, điềm tĩnh như khi giảng sách cho học trò. Trong bài điếu văn, Phan Bội Châu viết: “Nhớ khi ông tới trường chém, dao đã kề cổ, còn ung dung xin với quan giám trảm cho đặt án, đốt hương, áo mão nghiêm trang, bái tạ quốc dân năm bái, rồi khẳng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách”.
Trần Siêu
31 phút trước
13 phút trước
23 phút trước
4 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
21 phút trước
25 phút trước
38 phút trước
40 phút trước
41 phút trước