🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Chuyên gia: Cần một chương trình tổng thể cấp quốc gia để sàng lọc sớm ung thư phổi

3 giờ trước
Theo các chuyên gia, việc sàng lọc và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với ung thư và ung thư phổi.

Các chuyên gia tại Chương trình tọa đàm trực tuyến. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ung thư phổi hiện là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư tại Việt Nam, với khoảng 25.000 ca mắc mới mỗi năm. Đáng chú ý, hơn 70% bệnh nhân được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn và chi phí rất lớn.

Trong khi đó, ung thư phổi hoàn toàn có thể được phát hiện sớm nếu người dân được tầm soát định kỳ, đặc biệt đối với các nhóm nguy cơ cao.

Đây cũng là nội dung chính của tọa đàm trực tuyến “Sàng lọc sớm ung thư phổi - từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia,” do Báo Sức khỏe và Đời sống (Bộ Y tế) tổ chức ngày 7/4.

Chỉ khoảng 20% bệnh nhân đến viện ở giai đoạn sớm

Thông tin tại tọa đàm cho thấy, một số quốc gia như Nhật Bản và Malaysia, các chương trình sàng lọc bằng X-quang phổi kết hợp ứng dụng trí tuệ nhân tạo - AI đã được triển khai nhằm hỗ trợ phát hiện sớm bệnh, góp phần giảm gánh nặng điều trị cho hệ thống y tế. Tuy nhiên tại Việt Nam, chương trình sàng lọc ung thư phổi ở quy mô quốc gia vẫn chưa được triển khai một cách hệ thống và việc tầm soát hiện vẫn chủ yếu diễn ra rải rác tại một số cơ sở y tế.

Trong bối cảnh ngành y tế đang nỗ lực thực hiện Nghị quyết số 72 ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, với quan điểm chỉ đạo chuyển trọng tâm từ "tập trung khám bệnh, chữa bệnh" sang "chủ động phòng bệnh” thì việc sàng lọc ung thư phổi càng trở nên cần thiết.

Phó giáo sư Đỗ Hùng Kiên - Phó Giám đốc Bệnh viện K cho hay qua các khảo sát thống kê cho thấy bệnh nhân ung thư phổi đến với các cơ sở y tế chỉ khoảng 20% ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật được, còn lại là các giai đoạn không phẫu thuật được. Trong đó, giai đoạn 4 chiếm khoảng 40-50%, giai đoạn 3 chiếm khoảng 25-30%. Bệnh nhân thường đến bệnh viện ở giai đoạn muộn khi đã có các triệu chứng toàn thân như khó thở, đau ngực, ho, hoặc thậm chí khi đã có triệu chứng di căn (đau xương, đau đầu, di căn não…).

Phó giáo sư Đỗ Hùng Kiên - Phó Giám đốc Bệnh viện K. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Bác sỹ Kiên phân tích, việc bệnh nhân mắc ung thư phổi đến bệnh viện trong tình trạng muộn gây khó khăn lớn cho điều trị và hệ thống y tế. Đó là quá trình chẩn đoán và điều trị kéo dài hơn nhiều so với giai đoạn sớm. Ở giai đoạn sớm, khả năng điều trị khỏi bệnh cao, thời gian điều trị ngắn, chi phí cho bệnh nhân và gánh nặng cho xã hội, ngành y tế giảm đáng kể. Bệnh nhân giai đoạn sớm dễ hòa nhập lại với xã hội và công việc. Ngược lại, bệnh nhân giai đoạn muộn (đặc biệt giai đoạn 4) phải điều trị kéo dài gần như cả đời, chỉ nhằm mục tiêu kiểm soát bệnh chứ không phải chữa khỏi, gây gánh nặng rất lớn cho hệ thống y tế.

Ở Việt Nam hiện nay chưa có hệ thống sàng lọc định kỳ quốc gia, việc phát hiện sớm chủ yếu nhờ nhận thức cá nhân, khám sức khỏe định kỳ qua cơ quan tổ chức hoặc tình cờ.

Sàng lọc, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ

Tiến sỹ Lê Thái Hà - Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho hay ung thư đã được đưa vào Chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm từ rất sớm, trong đó có nhiều loại ung thư, và những ung thư có tỷ lệ mắc mới cao tại Việt Nam, đồng thời có tỷ lệ tử vong cao, sẽ được ưu tiên đưa vào kiểm soát trong chiến lược này.

“Tuy nhiên, việc xây dựng một chiến lược tổng thể cho sàng lọc và phát hiện sớm tất cả các bệnh không lây nhiễm vẫn còn là một hướng đi tương đối mới. Rất kịp thời là hiện nay, Bộ Chính trị đã phê duyệt Nghị quyết 72, đáng lưu ý khi lĩnh vực phòng bệnh cũng đã thể chế hóa một phần nội dung của Nghị quyết này, trong đó nhấn mạnh vai trò của sàng lọc và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ nhằm phát hiện bệnh sớm hơn,” bà Hà phân tích.

Mục tiêu của sàng lọc không chỉ là phát hiện bệnh, mà còn giúp người dân nhận biết rõ hơn về tình trạng sức khỏe của bản thân. Trong quá trình sàng lọc, thông tin cũng được truyền thông để người dân có thể tự theo dõi, nhận diện dấu hiệu bất thường và can thiệp kịp thời khi cần thiết. Nhờ đó, các bệnh sẽ được phát hiện sớm hơn, đặc biệt là ung thư có thể được phát hiện ngay từ giai đoạn sớm.

Tiến sỹ Lê Thái Hà - Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế). (Ảnh: PV/Vietnam+)

Chính vì vậy, việc sàng lọc và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với ung thư và ung thư phổi. Lý do là gánh nặng bệnh tật của nhóm bệnh này rất lớn, không chỉ đối với người bệnh mà còn đối với toàn xã hội.

Theo bà Hà, điều khó khăn lớn nhất hiện nay là sự không đồng đều về năng lực của hệ thống y tế, đặc biệt khi sàng lọc cần được triển khai từ y tế cơ sở. Vì vậy, cả về nhân lực và trang thiết bị đều là những thách thức quan trọng ban đầu. Để sàng lọc sớm ung thư phổi, có thể triển khai sàng lọc cộng đồng bằng X-quang kết hợp AI, nhưng điều này đòi hỏi cơ sở y tế phải có đủ thiết bị và hạ tầng phù hợp.

AI có thể hỗ trợ bác sỹ chẩn đoán nhanh và hiệu quả hơn, nhưng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của bác sỹ, do đó yêu cầu về nguồn nhân lực vẫn rất quan trọng. Bên cạnh sàng lọc cộng đồng, cần triển khai sàng lọc có trọng điểm cho nhóm nguy cơ cao, như người trên 50 tuổi hoặc có tiền sử hút thuốc trên 20 năm. Với nhóm này, cần áp dụng các kỹ thuật chuyên sâu hơn như CT liều thấp, đồng nghĩa với việc phải đầu tư thêm về trang thiết bị.

Tuy nhiên, về mặt chính sách, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy sàng lọc sớm. Luật Phòng bệnh đã quy định mỗi người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc ít nhất 1 lần/năm. Lộ trình từ nay đến 2026-2027 sẽ ưu tiên triển khai cho các nhóm ưu tiên và khu vực trọng điểm, bao gồm người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em và người có bệnh nền. Mục tiêu đến năm 2028 là mỗi người dân đều có hồ sơ sức khỏe điện tử, ghi nhận đầy đủ yếu tố nguy cơ và tình trạng bệnh lý, làm cơ sở cho việc theo dõi và sàng lọc lâu dài.

Các hướng dẫn chuyên môn về khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc đang được Bộ Y tế xây dựng và dự kiến áp dụng từ 1/7, nhằm chuẩn hóa triển khai trên toàn quốc. Thực tế cho thấy các quốc gia như Nhật Bản và Malaysia đã triển khai sàng lọc trên quy mô lớn trong cộng đồng và mang lại nhiều bài học thực tiễn. Đây là những kinh nghiệm Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi và áp dụng.

Theo bà Hà, hiện nay, ngành y tế đã có dữ liệu dịch tễ từ quốc tế và bước đầu có dữ liệu trong nước, do đó việc áp dụng mô hình phù hợp là khả thi. Tuy nhiên, theo quan điểm phòng bệnh, ngoài việc học hỏi mô hình quốc tế, Việt Nam cần tập trung chương trình mục tiêu quốc gia nâng cao năng lực hệ thống y tế và tập trung cho y tế cơ sở.

Cụ thể, cần đầu tư trang thiết bị có thể thực hiện tại y tế cơ sở như như X-quang, CT liều thấp, đào tạo cán bộ và tăng cường hỗ trợ chuyên môn từ tuyến trên. Việc kết nối giữa các tuyến giúp nâng cao chất lượng đọc kết quả và chẩn đoán, nâng cao năng lực đồng đều cho hệ thống tuyến dưới và có thể thực hiện việc sàng lọc từ sớm từ cơ sở.

Bác sỹ Kiên cho hay, người mắc bệnh ung thư phổi khi được phát hiện sớm (giai đoạn 1, 2 và đầu giai đoạn 3): Phương pháp điều trị chính là phẫu thuật, kết hợp hóa chất, miễn dịch, điều trị đích bổ trợ… Mục tiêu điều trị là chữa khỏi bệnh, với thời gian điều trị ngắn hơn rất nhiều. Theo số liệu thống kê, Giai đoạn 1: tỷ lệ sống trên 5 năm (khỏi bệnh) rất cao (70-90%), Giai đoạn 2: khoảng 50-60%, Giai đoạn 3: chỉ còn 10-36%, Giai đoạn 4: chỉ còn khoảng 10% (tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn này rất đông).

Phó giáo sư Đỗ Hùng Kiên phân tích: “Việc có một chương trình sàng lọc quốc gia là mong mỏi rất lớn của các bác sỹ lâm sàng. Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi ngày càng tăn, và mục tiêu là giảm số ca mắc mới, đồng thời tăng tỷ lệ phát hiện ở giai đoạn sớm. Chúng ta cần một chương trình tổng thể cấp quốc gia, thay vì các hoạt động rời rạc tại từng bệnh viện hoặc nhóm chuyên môn.”

Bác sỹ Kiên cho hay, việc sàng lọc cần tập trung vào nhóm nguy cơ cao, vì đã được chứng minh giúp giảm tỷ lệ tử vong ung thư phổi. Nhóm nguy cơ cao bao gồm người trên 50 tuổi và có tiền sử hút thuốc trên 20 năm. Ngoài ra, có những nhóm không thuộc hai tiêu chí trên nhưng vẫn có nguy cơ như: Tiếp xúc nghề nghiệp với hóa chất, khí độc; Môi trường ô nhiễm; Bệnh nghề nghiệp hoặc amiăng… Những đối tượng này cũng cần được xem xét trong chiến lược sàng lọc. Việc triển khai cần sự tham gia của toàn bộ hệ thống y tế và cả hệ thống chính trị./.

(Vietnam+)

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ