🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Chuyên đề hóa công viên - nâng cao đời sống tinh thần cho Nhân dân: Bài 2: Từ mảng xanh thụ động đến hạ tầng văn hóa chiến lược của TPHCM

2 giờ trước
Để chiến lược chuyên đề hóa công viên không dừng ở mức ý tưởng, cần đặt trên nền tảng dữ liệu và nhu cầu đời sống đô thị cụ thể. Khi có số liệu, luận điểm mới chuyển từ 'đúng về tư duy' sang 'đủ sức nặng để tổ chức thực thi'. Hiện nay, tại TPHCM, diện tích cây xanh công cộng bình quân đầu người dao động khoảng 0,5-1m²/người (tùy cách tính và phạm vi), trong khi nhiều đô thị phát triển đạt 8-10m²/người, thậm chí cao hơn. Do không tương xứng với tốc độ gia tăng dân số nên mỗi mét vuông công viên đều là tài sản chiến lược…

Gia tăng giá trị sử dụng

Tần suất sử dụng tại các công viên lớn như Công viên Gia Định hay Công viên Lê Văn Tám rất cao vào sáng sớm và chiều tối, nhưng thấp vào khung giờ giữa ngày và các ngày trong tuần. Sự kiện văn hóa định kỳ còn thưa thớt, chủ yếu tập trung vào vài dịp cao điểm trong năm. Tỷ lệ diện tích thực sự dành cho hoạt động văn hóa có tổ chức (sân khấu, khu sinh hoạt cộng đồng, không gian triển lãm...) thường chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với tổng diện tích cây xanh.

Vì thế, nếu quỹ đất hạn chế mà nội dung sử dụng nghèo nàn thì lãng phí không nằm ở đất mà ở mô hình vận hành. Chuyên đề hóa là cách gia tăng "giá trị trên mỗi mét vuông công viên". Chiến lược chuyên đề hóa, vì vậy phải hướng đến 4 mục tiêu lớn. Thứ nhất, nâng hiệu suất sử dụng không gian theo chiều sâu thời gian. Không chỉ đông vào 2 khung giờ cố định mà phải có hoạt động phân bổ suốt tuần, suốt năm. Thứ hai, hình thành hệ sinh thái ngành nghề văn hóa - sáng tạo gắn với công viên. Thứ ba, giải quyết các nhu cầu xã hội cụ thể theo từng nhóm dân cư. Thứ tư, tạo bản sắc riêng cho từng không gian, qua đó hình thành mạng lưới văn hóa đô thị.

Cổng chào biểu tượng công viên Hoàng Văn Thụ

Nếu lấy ví dụ về công viên chuyên đề hoa và cảnh quan sinh thái, mục tiêu không chỉ là trưng bày hoa đẹp. Thành phố có truyền thống sản xuất hoa kiểng tại các quận ven và vùng lân cận. Một công viên hoa chuyên đề có thể trở thành trung tâm trưng bày, giao dịch, tổ chức lễ hội hoa định kỳ, workshop cắm hoa, lớp học thiết kế cảnh quan, không gian nghệ thuật sắp đặt sinh thái. Khi đó, ngành hoa kiểng không còn mang tính mùa vụ mà phát triển thành chuỗi giá trị: sản xuất - sáng tạo - du lịch - giáo dục. Nghệ thuật cảnh quan trở thành một phần của đời sống thẩm mỹ đô thị, thay vì chỉ là vật trang trí.

Với công viên chuyên đề thể thao dành cho giới trẻ có thể bao gồm khu tập luyện tiêu chuẩn, huấn luyện viên cộng đồng, giải đấu định kỳ, hệ thống tài trợ từ doanh nghiệp thể thao. Khi đó, công viên không chỉ giảm hành vi tiêu cực mà còn nuôi dưỡng tài năng, tạo ngành nghề liên quan đến huấn luyện, tổ chức sự kiện, truyền thông thể thao.

Công viên chuyên đề ẩm thực lại giải quyết một nhu cầu khác: Thành phố có văn hóa ẩm thực phong phú nhưng thiếu không gian tổ chức văn minh. Nếu có khu ẩm thực chuyên đề trong công viên với tiêu chuẩn vệ sinh, quy hoạch gian hàng, khu trình diễn nấu ăn, lớp học ẩm thực truyền thống thì ẩm thực đường phố sẽ được nâng tầm từ hoạt động tự phát thành sản phẩm văn hóa. Điều này tạo sinh kế cho hộ kinh doanh nhỏ, đồng thời quảng bá bản sắc địa phương.

Một công viên chuyên đề phát triển thiếu nhi có thể bao gồm: thư viện ngoài trời, sân khấu kể chuyện, khu khoa học trải nghiệm, lớp học thủ công, khu vận động thể chất an toàn. Trẻ em Thành phố đang chịu áp lực học tập và lệ thuộc vào thiết bị số; không gian công viên nếu được tổ chức bài bản sẽ trở thành môi trường phát triển kỹ năng mềm và tương tác xã hội.

Với công viên chuyên đề văn hóa cộng đồng người cao tuổi có thể tổ chức câu lạc bộ dưỡng sinh, âm nhạc truyền thống, lớp học công nghệ cơ bản, không gian giao lưu thế hệ. Khi người cao tuổi có nơi sinh hoạt có cấu trúc, họ không chỉ được chăm sóc sức khỏe mà còn duy trì vai trò xã hội. Điều này góp phần giảm gánh nặng tâm lý và y tế.

Điểm cốt lõi là mỗi chuyên đề phải gắn với một nhu cầu đô thị cụ thể và một hệ sinh thái ngành nghề cụ thể. Công viên không chỉ tiêu ngân sách mà phải tạo ra giá trị kinh tế gián tiếp và giá trị xã hội dài hạn. Về quản trị, chiến lược chuyên đề hóa cần đặt ra các chỉ số đo lường rõ ràng: số lượng hoạt động định kỳ mỗi tháng; số câu lạc bộ hình thành; tỷ lệ người tham gia theo nhóm tuổi; doanh thu xã hội hóa; mức độ hài lòng của cư dân; tỷ lệ sử dụng công viên ngoài khung giờ cao điểm. Khi các chỉ số này được theo dõi hàng năm, công viên sẽ được quản trị như một thiết chế văn hóa, không chỉ như một mảng xanh.

Chiến lược vận hành dài hạn

Khi mỗi công viên trở thành trung tâm văn hóa theo chủ đề, Thành phố sẽ có một mạng lưới không gian nuôi dưỡng con người ở nhiều chiều: thể chất, thẩm mỹ, tri thức, cộng đồng. Nếu làm tốt, bản đồ công viên cũng chính là bản đồ phát triển con người. Khi đó, không gian xanh không còn chỉ là nơi "thở", mà là nơi "sống" - sống có nội dung, có tương tác và có chiều sâu văn hóa.

Nhìn ra thế giới, có thể thấy một chuyển động rất rõ ràng: các thành phố lớn không còn xem công viên là "mảng xanh để đi dạo" mà đang chuyển đổi thành những không gian có nội dung, có bản sắc và có chiến lược vận hành dài hạn. Tại New York City (Mỹ), công viên The High Line được hình thành từ tuyến đường sắt cũ bỏ hoang. Điều làm nên giá trị của nó không chỉ là cây xanh, mà là hệ sinh thái nghệ thuật công cộng, thiết kế sáng tạo và các chương trình sự kiện định kỳ.

Hay như Chicago, Millennium Park không đơn thuần là công viên trung tâm mà đã tích hợp sân khấu ngoài trời quy mô lớn, các tác phẩm điêu khắc biểu tượng và chương trình biểu diễn âm nhạc quanh năm. Công viên được thiết kế như một trung tâm văn hóa mở, nơi nghệ thuật và đời sống đô thị hòa làm một. Không gian xanh ở đây đồng thời là không gian lễ hội. Ở Boston, Rose Fitzgerald Kennedy Greenway lại là tuyến công viên kéo dài, kết nối nhiều khu phố, tích hợp vườn cảnh quan, không gian triển lãm và khu tổ chức sự kiện cộng đồng.

Điểm chung của các mô hình này là sự chuyên đề hóa và đa chức năng. Công viên được định hình theo chủ đề: nghệ thuật, biểu diễn, sinh thái, tuyến kết nối, lễ hội, thể thao cộng đồng... Mỗi công viên có vai trò riêng trong hệ sinh thái đô thị. Nhờ đó, chúng không bị "trống công năng", không chỉ đông người vào cuối tuần rồi vắng lặng vào ngày thường, mà duy trì được nhịp sống liên tục.

Chuyên đề hóa công viên không chỉ là thay đổi cách tổ chức hoạt động bên trong một không gian xanh. Nếu làm đúng và làm đủ sẽ tác động đến cấu trúc đô thị của TPHCM ở cấp độ sâu hơn: cấu trúc không gian, cấu trúc kinh tế và cấu trúc đời sống xã hội.

Thứ nhất, về cấu trúc không gian đô thị. Hiện nay, phần lớn công viên của Thành phố tồn tại như những "khoảng trống xanh rời rạc" trong mạng lưới đô thị, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi thụ động, thiếu chủ đề và thiếu kết nối chức năng với khu vực xung quanh. Khi chuyên đề hóa, mỗi công viên sẽ được xác định một vai trò chiến lược: công viên hoa và sinh thái sáng tạo; công viên thể thao thanh niên; công viên ẩm thực - lễ hội; công viên thiếu nhi; công viên cộng đồng người cao tuổi; công viên văn hóa ven sông...

Thứ hai, về cấu trúc kinh tế đô thị. Khi một công viên được chuyên đề hóa sẽ tạo ra nhu cầu nghề nghiệp và chuỗi giá trị liên quan. Ví dụ, nếu hình thành công viên chuyên đề hoa và nghệ thuật cảnh quan, Thành phố không chỉ có thêm điểm tham quan, mà còn kích hoạt ngành hoa kiểng, thiết kế cảnh quan, nghệ thuật sắp đặt, chợ phiên hoa, đào tạo nghề làm vườn đô thị, tổ chức lễ hội hoa định kỳ. Một không gian xanh trở thành hạt nhân của ngành kinh tế sáng tạo.

Thứ ba, về cấu trúc đời sống xã hội. TPHCM là một đô thị trẻ, năng động nhưng cũng áp lực, thiếu không gian tương tác chất lượng cao. Khi công viên có chủ đề rõ ràng, người dân không chỉ "ra công viên cho mát", mà ra để tham gia hoạt động cụ thể: đọc sách, chơi thể thao, học làm vườn, tham gia lễ hội ẩm thực, sinh hoạt câu lạc bộ người cao tuổi, đưa trẻ em tới không gian sáng tạo.

Thứ tư, về ngành du lịch và văn hóa. Du lịch hiện đại không còn chỉ dựa vào di tích hay mua sắm, mà dựa vào trải nghiệm không gian sống. Những công viên chuyên đề có bản sắc sẽ trở thành điểm đến độc đáo. Một lễ hội hoa thường niên, một không gian ẩm thực chuẩn hóa, một chuỗi biểu diễn nghệ thuật ngoài trời ven sông, hay một công viên thể thao mở với giải đấu cộng đồng quy mô lớn... đều có thể trở thành sản phẩm du lịch đô thị.

Không gian xanh không còn là phần phụ của quy hoạch, mà trở thành hạ tầng mềm chiến lược - nơi cấu trúc đô thị, cấu trúc kinh tế và cấu trúc đời sống gặp nhau. Nếu làm có chiến lược, chuyên đề hóa công viên không chỉ làm đẹp Thành phố, mà tái định hình cách người dân sống, tương tác và tự hào về nơi mình đang ở. Đó mới là giá trị lớn nhất của một đô thị văn hóa.

Theo thống kê, TPHCM hiện có khoảng 369 công viên với tổng diện tích khoảng 500ha, phục vụ cho hơn 9-10 triệu dân. Nếu quy đổi theo đầu người, diện tích công viên công cộng chỉ đạt khoảng 0,55m²/người. Khi tính cả cây xanh đường phố và các mảng xanh khác, con số cũng chưa đến 1m²/người. Như vậy, TPHCM hiện chỉ đạt khoảng 3-5% tiêu chuẩn thông thường của một đô thị phát triển. Điều này phản ánh lịch sử phát triển đô thị dày đặc, thiếu quỹ đất công viên và việc quy hoạch không gian xanh chưa theo kịp tốc độ gia tăng dân số.

(Còn tiếp)

THUẬN NAM - DUY LUÂN - LÊ MINH

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ