Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đặt nền móng cho Quốc hội Việt Nam
Trưng bày được tổ chức nhân kỷ niệm 80 năm Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 - 6/1/2026), 85 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước (28/1/1941 - 28/1/2026), chào mừng Đại hội XIV của Đảng.
Ngay từ ngày 2/9/1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng tư tưởng về quyền con người, quyền công dân và pháp quyền: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được…”.

Hình ảnh, tư liệu quý tại trưng bày
Trước khi có Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh quan trọng để xử lý các vấn đề cấp thiết của đất nước, như: bãi bỏ thuế thân, lập bình dân học vụ, chuẩn bị tổ chức Tổng tuyển cử, thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp (Sắc lệnh số 34-SL ngày 20/9/1945)...
Tư duy pháp quyền được Người thể hiện rõ nét qua hành động, thể hiện thống nhất quan điểm: quản trị quốc gia phải bằng pháp luật, không áp đặt chủ quan, mục tiêu là để phục vụ Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự míttinh của hàng vạn nhân dân Thủ đô chào mừng Người và các đại biểu được giới thiệu ra ứng cử tại Hà Nội tại sân vận động Phúc Tân, ngày 5/1/1946
Không chỉ là người đặt nền móng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trực tiếp lãnh đạo công cuộc lập pháp. Người hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp (năm 1946 và 1959); trực tiếp ký, công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và hàng trăm văn bản dưới luật trong thời gian giữ cương vị Chủ tịch nước.
Những văn bản này đã xây dựng nên một nền pháp lý khởi nguyên cho Nhà nước pháp quyền Việt Nam, một nhà nước lấy “thượng tôn pháp luật” làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ năm 1946
Đặc biệt, Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, là một văn kiện mang giá trị pháp lý, chính trị và tư tưởng vượt thời đại. Trong đó, tư tưởng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” được khẳng định rất rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra cho Nhân dân phúc quyết”.
Trong các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nhấn mạnh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là Nhân dân làm chủ”. Do đó, các cơ quan nhà nước, từ trung ương đến địa phương “đều là công bộc của dân"; việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh…”.

Ảnh trái: Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội Khóa I (họp từ ngày 1 - 4/12/1953) ở căn cứ địa Việt Bắc; Ảnh phải: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với các đại biểu Quốc hội trong giờ nghỉ của Kỳ họp thứ Ba, Quốc hội Khóa I
Để xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chính quy, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ quản lý hành chính ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 197 thành lập Ban Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam; năm 1950, Người ký Sắc lệnh số 76 ban hành “Quy chế công chức” để bảo đảm công bằng trong thi tuyển, bổ nhiệm vào ngạch bậc hành chính. Người yêu cầu tổ chức thi tuyển công chức phải dựa trên hiểu biết về chính trị, kinh tế, pháp luật, địa lý, lịch sử, ngoại ngữ… để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, phục vụ hiệu quả.
Bên cạnh việc tập trung xây dựng thể chế quản lý đất nước thông qua pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đức, có tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ giác ngộ và chấp hành pháp luật của nhân dân, đồng thời nhấn mạnh sự nêu gương của đội ngũ thực thi pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (tháng 1/1948), Người căn dặn: “Các bạn là những người thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao tấm gương 'phụng công, thủ pháp, chí công vô tư' cho Nhân dân noi theo”.

Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương mẫu mực trong việc thực hành thượng tôn pháp luật. Một ví dụ tiêu biểu là năm 1946, dù là nguyên thủ quốc gia, Người vẫn tự tay viết đơn xin Quốc hội cho phép vắng mặt trong một kỳ họp để đi công tác nước ngoài. Đây là hành động thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật ở mức cao nhất.
Ngoài ra, trong công việc hằng ngày, Người luôn căn dặn cán bộ phải dựa vào pháp luật mà làm việc, không được làm trái luật, không được lợi dụng quyền hạn để vi phạm pháp luật, xem đó là điều kiện cốt lõi để xây dựng một chính quyền trong sạch, vững mạnh...
H.Sen
2 giờ trước
16 ngày trước
17 ngày trước
17 ngày trước
29 phút trước
2 giờ trước
44 phút trước
31 phút trước
43 phút trước
43 phút trước
45 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước