Chủ động định hình luật chơi trong kỷ nguyên số: Đặt quyền con người vào vị trí trung tâm
Trong bối cảnh đó, việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật AI thể hiện sự chuyển dịch tư duy từ quản lí bị động sang chủ động định hình luật chơi trong quản trị công nghệ số, trong đó không chỉ điều chỉnh hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI mà còn là công cụ để đặt quyền con người vào trung tâm của tiến trình số hóa quốc gia.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn
AI mở ra nhiều cơ hội to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, cấp bách về quản lí, đạo đức và an toàn trong khi các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa bao quát đầy đủ.
Luật Công nghiệp công nghệ số ban hành ngày 14/6/2025 với “Chương IV: Trí tuệ nhân tạo” đã thiết lập nền tảng pháp lí ban đầu mang tính nguyên tắc cho việc phát triển và ứng dụng AI. Tuy nhiên, các quy định này chưa tạo hành lang pháp lí toàn diện để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, phát triển, triển khai, sử dụng AI và hệ sinh thái toàn diện về AI.
Một số vấn đề thực tiễn như rủi ro về đạo đức, thiên kiến thuật toán, xâm phạm quyền riêng tư và phân biệt đối xử trong ứng dụng AI; sự thiếu cơ chế phân loại, kiểm soát rủi ro hệ thống AI; sự phụ thuộc nhiều vào công nghệ và mô hình nước ngoài…, đang tạo ra rào cản lớn cho việc nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng hệ thống AI ở Việt Nam.
Nhiều thách thức đặt ra như: Khoảng trống về trách nhiệm pháp lí khi AI gây thiệt hại; thách thức đối với an ninh quốc gia, trật tự xã hội và các giá trị đạo đức khi công nghệ deepfake bị lạm dụng để tạo ra các thông tin sai lệch, bôi nhọ, lừa đảo hoặc gây bất ổn chính trị xã hội; thuật toán thiên vị tạo ra các hệ thống AI có thể vô tình hoặc cố ý học và khuếch đại các định kiến có sẵn trong dữ liệu, dẫn đến các quyết định bất công và phân biệt đối xử trong xã hội…

Thực tế, nhiều quốc gia đã ban hành, xây dựng các quy định pháp lí cho việc nghiên cứu phát triển, triển khai và ứng dụng AI. Liên minh châu Âu (EU) ban hành Đạo luật về Trí tuệ nhân tạo (AI Act) - đạo luật toàn diện đầu tiên trên thế giới về AI. AI Act quy định về khung pháp lí thống nhất, hài hòa cho việc phát triển, triển khai và sử dụng các hệ thống AI trong EU; áp dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro, nhằm đảm bảo các hệ thống AI được sử dụng một cách an toàn, đáng tin cậy, minh bạch và tôn trọng các quyền con người.
Hàn Quốc có Luật cơ bản về phát triển AI và xây dựng nền tảng niềm tin với cách tiếp cận cân bằng giữa thúc đẩy và quản lí AI. Nhật Bản có Đạo luật thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ liên quan đến AI. Thái Lan đang xây dựng Đạo luật thúc đẩy và hỗ trợ đổi mới AI dựa trên 5 trụ cột cơ bản: quy định dựa trên rủi ro, hỗ trợ đổi mới, nguyên tắc pháp lí chung, giám sát theo quy định, thực thi pháp luật.
Mỹ, Trung Quốc cũng đang khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các thể chế quản lí đặc thù cho lĩnh vực AI. Trung Quốc đang triển khai chiến lược với mục tiêu trở thành cường quốc AI hàng đầu thế giới; nhấn mạnh việc đảm bảo an ninh quốc gia, làm chủ công nghệ lõi, và xây dựng các bộ dữ liệu khổng lồ để phát triển các mô hình nền tảng có chủ quyền. Trong khi đó, Mỹ ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo về AI thông qua các khoản đầu tư lớn vào R&D.
Như vậy, việc Việt Nam ban hành Luật AI đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, nhu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp xu thế tất yếu trên thế giới.
Đặt con người vào trung tâm
Luật AI được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, đưa Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia có khung pháp lí chuyên biệt về AI.
Luật AI gồm 7 chương với 56 điều, được xây dựng theo hình thức luật khung, linh hoạt và thích ứng với sự phát triển của công nghệ, bảo đảm tính thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Nội dung Luật đã được xây dựng tương thích với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên (Công ước ICCPR, CRC, ICESCR).
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động AI được quy định tại Điều 4: (1) Lấy con người làm trung tâm; bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và an ninh quốc gia; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;
(2) AI phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Đảm bảo duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với mọi quyết định và hành vi của hệ thống AI; an toàn hệ thống, an ninh dữ liệu và bảo mật thông tin; khả năng kiểm tra và giám sát quá trình phát triển và vận hành hệ thống AI;
(3) Đảm bảo công bằng, minh bạch, không thiên lệch, không phân biệt đối xử và không gây hại cho con người hoặc xã hội; tuân thủ chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa Việt Nam; thực hiện trách nhiệm giải trình về các quyết định và hệ quả của hệ thống AI;
(4) Thúc đẩy phát triển AI xanh, bao trùm và bền vững; khuyến khích phát triển và ứng dụng các công nghệ AI theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động tiêu cực đến môi trường.

Như vậy, nguyên tắc tối cao của Luật là AI phục vụ con người, không thay thế con người, con người giám sát AI ở những quyết định trọng yếu; AI phải minh bạch, trách nhiệm và an toàn. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải, đây là nền tảng để bảo đảm AI phát triển theo hướng an toàn, nhân văn và trách nhiệm; không ai bị bỏ lại phía sau trong kỉ nguyên số.
Bên cạnh đó, Luật cũng nhấn mạnh tính công bằng, minh bạch, khách quan và không phân biệt đối xử, đồng thời yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa Việt Nam. Thực tế, AI được huấn luyện chính từ dữ liệu xã hội do con người cung cấp, có thể tái tạo và khuếch đại các định kiến sẵn có trước đó, dẫn đến thiên lệch trong các hoạt động của đời sống xã hội. Việc Luật yêu cầu đánh giá rủi ro, kiểm soát thiên lệch và trách nhiệm giải trình là cơ sở pháp lí quan trọng để người dân không bị “phân biệt đối xử dựa trên thuật toán”.
Không những thế, AI phụ thuộc mạnh mẽ vào dữ liệu, và nếu thiếu kiểm soát, quyền riêng tư có thể bị xâm hại nghiêm trọng. Việc gắn AI với các nghĩa vụ quản trị dữ liệu và an toàn thông tin giúp củng cố hàng rào bảo vệ quyền cá nhân trong môi trường số. Luật AI cũng tạo cơ sở cho quyền được biết, được giải thích và được khiếu nại khi cá nhân chịu tác động từ các hệ thống tự động, do đó thúc đẩy tính chịu trách nhiệm của mọi người khi tham gia sân chơi AI.
Luật AI còn khuyến khích ứng dụng AI phục vụ phúc lợi xã hội (khoản 3 Điều 5) hướng đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương: Hỗ trợ người khuyết tật, người nghèo và các dân tộc thiểu số thu hẹp khoảng cách số; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Việc tích hợp giáo dục AI vào chương trình giáo dục phổ thông giúp thế hệ trẻ tiếp cận công nghệ một cách có trách nhiệm và nhân văn.
Cách tiếp cận dựa trên quyền con người còn được thể hiện rõ ở việc Luật đặt mức độ rủi ro cao đối với hệ thống AI có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia (mục a, khoản 1, Điều 9).
Khoản 2 Điều 6 cũng nhấn mạnh: Đối với các lĩnh vực thiết yếu có tác động trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của con người hoặc trật tự, an toàn xã hội, việc ứng dụng AI phải được quản lí rủi ro ở mức độ chặt chẽ hơn, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, trong đó lĩnh vực y tế phải bảo đảm an toàn cho người bệnh; độ tin cậy trong điều kiện sử dụng thực tế; bảo vệ dữ liệu về sức khỏe theo quy định của pháp luật; lĩnh vực giáo dục phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển của người học; phòng ngừa rủi ro trong đánh giá, phân loại và tác động đến người học; bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư.
Bên cạnh đó, Điều 7 Luật AI nghiêm cấm lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống AI vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và cấm việc phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống AI nhằm mục đích sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người; lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương (trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác.
Với nguyên tắc xuyên suốt “quyền con người là trung tâm”, Luật AI đã được xây dựng trên cơ sở tương thích với các chuẩn mực quốc tế về AI và nhân quyền, như: Khuyến nghị của UNESCO về Đạo đức AI hay các Nguyên tắc AI của OECD, vốn đều nhấn mạnh phẩm giá con người, công bằng, minh bạch và trách nhiệm.

Bảo đảm người dân được hưởng lợi trong kỷ nguyên AI
Việc ban hành Luật AI là một bước tiến mạnh mẽ song cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết để được thực thi hiệu quả, vì quyền và lợi ích của người dân.
Luật AI dựa trên cơ chế quản lí theo rủi ro. Vì vậy, muốn hiệu quả phải có tiêu chí cụ thể phân loại cụ thể về mức độ minh bạch, mức độ rủi ro và đánh giá tác động đối với quyền con người của hệ thống AI rủi ro cao. AI tác động đến nhiều lĩnh vực (y tế, giáo dục, tài chính, lao động…) liên quan trực tiếp đến quyền con người nên cần có cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng. Bên cạnh đó, “dữ liệu mở có kiểm soát” là hướng đi đúng, nhưng cần thiết kế quyền truy cập theo vai trò và quy định cơ chế chịu trách nhiệm.
Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về cơ chế khiếu nại - bồi thường - khắc phục để người dân hiểu quy trình bảo vệ quyền của mình. Quyền của người bị tác động do AI cũng cần được hướng dẫn cụ thể. AI gây thiệt hại thường khó chứng minh. Nếu thiếu cơ chế giải trình và hỗ trợ chứng cứ, quyền được bảo vệ hiệu quả sẽ bị suy giảm.
Luật AI mở ra cơ hội lớn để Việt Nam vừa tăng tốc đổi mới sáng tạo, vừa củng cố bảo vệ quyền con người trong môi trường số. Vấn đề quan trọng tới đây sẽ là việc triển khai thực thi Luật trên thực tiễn với những văn bản hướng dẫn cụ thể để quyền con người thực sự được bảo đảm và bảo vệ AI can dự vào đời sống. Có như vậy, Luật AI mới thực sự là một bước tiến thể chế, đặt Việt Nam vào nhóm quốc gia định hình luật chơi AI theo hướng “phát triển có trách nhiệm” trong kỉ nguyên số.
Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng và ban hành một đạo luật riêng về AI. Luật gồm 35 Điều, được thiết kế theo hướng "quản lí để phát triển", bảo đảm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phù hợp với thông lệ quốc tế và hỗ trợ Việt Nam chủ động hội nhập với các chuẩn mực công nghệ mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. UNESCO (2021), Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence.
2. OECD (2019), OECD Principles on Artificial Intelligence.
3. European Union (2024), Artificial Intelligence Act (AI Act).
4. United Nations (2023), Human Rights and Artificial Intelligence.
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Trí tuệ nhân tạo.
Trần Viết Trung
3 giờ trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
2 giờ trước
16 phút trước
7 phút trước
1 giờ trước
2 phút trước
6 phút trước
7 phút trước
12 phút trước
12 phút trước
14 phút trước