🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

16 phút trước
Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Xóa đói, giảm nghèo luôn là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong suốt quá trình đổi mới đất nước, đồng thời là trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội và phát triển bền vững. Việc tổng kết 40 năm đổi mới chính sách giảm nghèo có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, làm cơ sở khoa học để đề xuất các định hướng chiến lược trong bối cảnh mới.

Từ chỗ tập trung giải quyết tình trạng thiếu đói, bảo đảm nhu cầu tối thiểu, chính sách từng bước chuyển sang tạo sinh kế, nâng cao năng lực, giảm nghèo đa chiều và hướng tới phát triển con người. Nhờ đó, tỷ lệ nghèo giảm nhanh qua các giai đoạn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, củng cố ổn định chính trị và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, giảm nghèo không chỉ dừng ở góc độ thu nhập mà ngày càng gắn liền với khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng chống chịu trước các rủi ro kinh tế - xã hội. Điều đó đòi hỏi hệ thống chính sách phải tiếp tục được đổi mới theo hướng hiện đại, bao trùm, lấy con người làm trung tâm.

Quá trình phát triển tư duy và chính sách xóa đói, giảm nghèo

Tư duy và chính sách giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm Đổi mới thể hiện qua bốn bước chuyển mang tính lịch sử:

Giai đoạn 1986-1995: Từ cứu đói khẩn cấp đến bảo đảm an ninh lương thực. Đầu thời kỳ Đổi mới, Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 95-100 USD, lạm phát năm 1986 lên tới 774%. Các chính sách đổi mới kinh tế, đặc biệt là Khoán 10 (1988) và cải cách cơ chế thị trường, đã tạo bước ngoặt quan trọng, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo từ năm 1989. An ninh lương thực được bảo đảm đã tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc giảm nghèo. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), đến năm 1993, tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 58,1% , phản ánh điểm xuất phát thấp nhưng cũng ghi nhận nỗ lực to lớn của đất nước.

Giai đoạn 1996-2010: Thể chế hóa chính sách và hình thành các chương trình mục tiêu quốc gia. Giai đoạn này đánh dấu sự thể chế hóa hệ thống chính sách giảm nghèo thông qua các chương trình quy mô lớn: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo; Chương trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi; Chương trình 134 hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt; đồng thời thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội (2002) để cung cấp tín dụng ưu đãi. Điểm nổi bật là sự chuyển đổi từ hỗ trợ đơn lẻ sang cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp đầu tư hạ tầng, tín dụng, giáo dục, y tế và đào tạo nghề. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58,1% (1993) xuống còn 14,2% (2010), giúp Việt Nam trở thành điểm sáng thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).

Giai đoạn 2011-2020: Chuyển mạnh sang giảm nghèo bền vững và tiếp cận đa chiều. Nghị quyết số 80/NQ-CP năm 2011 [9] đã xác lập quan điểm giảm nghèo bền vững, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thu nhập sang tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Năm 2016, Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo đa chiều [3], bổ sung tiêu chí giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh và thông tin. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm từ 14,2% (2010) xuống 2,75% (2020) [5]. Tính theo chuẩn nghèo của nhóm nước thu nhập trung bình thấp (3,2 USD PPP/ngày), tỷ lệ nghèo giảm từ 16,8% xuống còn 5,0%, đưa hơn 10 triệu người thoát nghèo trong thập kỷ này [13].

Giai đoạn 2021-2026: Giảm nghèo đa chiều, bao trùm và thích ứng với bối cảnh mới. Trong bối cảnh chịu tác động của dịch bệnh, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và già hóa dân số, chính sách giảm nghèo tiếp tục đổi mới lấy con người làm trung tâm. Trọng tâm là triển khai đồng bộ ba Chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm nghèo bền vững, Xây dựng nông thôn mới, Phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi). Nghị quyết số 42-NQ/TW (2023) [2] xác lập định hướng xây dựng hệ thống chính sách xã hội toàn diện, hiện đại, bao trùm, đánh dấu bước chuyển từ "giảm nghèo" sang "phát triển con người". Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 1,03%/năm; riêng huyện nghèo giảm 6,7%/năm. Đến cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 1,93% [4] và năm 2025 giảm xuống khoảng 1,3%.

Thành tựu nổi bật và một số hạn chế, thách thức

Những thành tựu nổi bật:

Thứ nhất, giảm mạnh tỷ lệ nghèo, cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân. Tỷ lệ nghèo giảm từ 58,1% (1993) [12] xuống còn khoảng 1,3% (2025). GDP bình quân đầu người tăng từ khoảng 100 USD (thập niên 1980) lên 5.026 USD (năm 2025). Hàng chục triệu người đã thoát nghèo bền vững.

Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang phát triển sinh kế bền vững. Tín dụng chính sách và đào tạo nghề dần thay thế trợ cấp thụ động. Giai đoạn 2021-2025, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho hơn 10,6 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng chính sách vay vốn với tổng doanh số trên 517 nghìn tỷ đồng, giúp tạo việc làm và nâng cao năng lực tự chủ.

Thứ ba, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền và hoàn thiện hạ tầng an sinh. Nguồn lực ưu tiên cho vùng "lõi nghèo", vùng DTTS và miền núi. Đặc biệt, phong trào "Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát" cùng các chương trình mục tiêu quốc gia đã cải thiện căn bản hạ tầng giao thông, điện, trường, trạm, nước sạch.

Thứ tư, củng cố ổn định chính trị-xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giảm nghèo góp phần nâng cao đời sống nhân dân, củng cố niềm tin đối với Đảng, Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thứ năm, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. WB, UNDP đánh giá Việt Nam là mô hình thành công về giảm nghèo và là quốc gia tiên phong trong ứng dụng chuẩn nghèo đa chiều, góp phần nâng cao Chỉ số Phát triển Con người (HDI).

Một số hạn chế, thách thức: Nguy cơ tái nghèo còn cao trước thiên tai, biến đổi khí hậu; khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng còn lớn; người nghèo gặp rào cản kỹ năng số; áp lực từ già hóa dân số nhanh; một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ.

Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

Thứ nhất, cần bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và vai trò kiến tạo của Nhà nước, coi giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm xuyên suốt.

Thứ hai, chuyển từ tư duy hỗ trợ sang phát triển năng lực tự chủ của người dân, chuyển từ "cho cái cần" sang trao quyền, tạo cơ hội sinh kế bền vững.

Thứ ba, nên lồng ghép chính sách, đa dạng hóa nguồn lực, kết hợp giữa ngân sách nhà nước với sự đóng góp của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế.

Thứ tư, đổi mới chuẩn nghèo và hiện đại hóa phương thức quản trị dựa trên chuyển đổi số và dữ liệu dân cư quốc gia để bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch.

Thứ năm, gắn giảm nghèo với phát triển con người, bảo đảm an sinh xã hội bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Định hướng đổi mới chính sách xóa đói, giảm nghèo trong bối cảnh mới

Hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, công tác giảm nghèo cần tập trung thực hiện các định hướng chiến lược sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy giảm nghèo theo hướng phát triển bao trùm. Chuyển mạnh từ hỗ trợ thụ động sang tạo môi trường phát triển, lấy người dân làm chủ thể, khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên. Tích hợp chính sách giảm nghèo vào các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tổng thể.

Thứ hai, đổi mới phương thức quản trị giảm nghèo dựa trên công nghệ số. Tiếp tục hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu an sinh xã hội để quản lý, phân bổ nguồn lực chính xác và hiệu quả.

Thứ ba, ưu tiên nguồn lực cho vùng "lõi nghèo" và phát triển sinh kế xanh, bền vững. Tập trung đầu tư hạ tầng kết nối, giáo dục, y tế, đào tạo nghề và tín dụng chính sách cho vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo; hỗ trợ chuyển giao công nghệ sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, huy động sự tham gia của toàn xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội; mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp thu kinh nghiệm và nguồn lực thực hiện hiệu quả các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs).

Chặng đường 40 năm Đổi mới (1986-2026) chứng kiến bước chuyển mình lịch sử của chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam - từ cứu trợ khẩn cấp sang phát triển năng lực, từ giảm nghèo đơn chiều sang đa chiều và an sinh xã hội bao trùm. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khi tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống mức thấp, trọng tâm chính sách cần chuyển mạnh từ "giảm tỷ lệ hộ nghèo" sang "nâng cao chất lượng thoát nghèo và phòng ngừa tái nghèo". Lấy phát triển con người làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội chính là chìa khóa để Việt Nam giữ vững thành quả giảm nghèo, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

TS Phạm Thị Xuân Nga Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ