🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Chính sách đang 'mở đường' để doanh nghiệp khoa học công nghệ Việt bứt phá

1 giờ trước
Cơ chế, chính sách hỗ trợ đang ngày càng hoàn thiện song không phải doanh nghiệp nào cũng nắm bắt thông tin và sẵn sàng tận dụng cơ hội này…

Khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, Việt Nam đang triển khai hàng loạt chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp khoa học công nghệ. Đây chính là giai đoạn thuận lợi nhất từ trước đến nay để doanh nghiệp chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tận dụng cơ chế mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠO BƯỚC NHẢY VỌT NĂNG SUẤT VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

Theo Tiến sĩ Vũ Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia Trung tâm Hỗ trợ Khởi nghiệp Sáng tạo Quốc gia (NSSC), chưa bao giờ khoa học công nghệ được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia như hiện nay.

Ông cho biết thế kỷ XXI sẽ được dẫn dắt bởi trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và Internet vạn vật (IoT), trong đó khoa học công nghệ không còn đóng vai trò hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

"Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định khoa học công nghệ là mũi nhọn để tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu đến năm 2045, khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao, đóng góp của lĩnh vực khoa học công nghệ phải chiếm tới 50% GDP", ông Vũ Việt Anh nhận định.

Theo ông, cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị định số 268/2025/NĐ-CP đã tạo nên nền tảng chính sách đồng bộ cho cộng đồng doanh nghiệp công nghệ phát triển.

“Các mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ dần bộc lộ giới hạn, khoa học công nghệ được xem là con đường tạo ra những bước nhảy vọt về năng suất và giá trị doanh nghiệp”, Tiến sĩ Vũ Việt Anh nói.

HÀNH LANG CHÍNH SÁCH TẠO LỰC ĐẨY CHO DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của chính sách mới là việc chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ.

Theo Tiến sĩ Vũ Việt Anh, doanh nghiệp khoa học công nghệ sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng và thị trường. Cụ thể, doanh nghiệp được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu hoạt động, tạo điều kiện để tập trung nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn được miễn giảm tiền thuê đất khi mở rộng sản xuất, được ưu tiên tham gia các gói thầu công nghệ trong nước và tiếp cận các chương trình hỗ trợ tín dụng với thủ tục đơn giản hơn.

Các phát minh, sáng chế và giải pháp công nghệ của doanh nghiệp sẽ từng bước được công nhận, có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay ngân hàng. Theo ông Vũ Việt Anh, đây là thay đổi có ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo, bởi nhiều doanh nghiệp công nghệ thường sở hữu tài sản trí tuệ nhưng lại thiếu tài sản hữu hình để tiếp cận nguồn vốn.

Không chỉ ở cấp trung ương, nhiều địa phương cũng đang xây dựng các chương trình hỗ trợ riêng cho doanh nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Dù cơ chế hỗ trợ ngày càng hoàn thiện, theo ông Vũ Việt Anh, không phải doanh nghiệp nào cũng nắm bắt và sẵn sàng tận dụng cơ hội này. Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều doanh nghiệp chưa xác định được sản phẩm của mình có đáp ứng tiêu chí doanh nghiệp khoa học công nghệ hay không, đặc biệt trong trường hợp sử dụng công nghệ nước ngoài hoặc chỉ cải tiến một phần quy trình sản xuất.

Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu trí tuệ vẫn là điểm yếu phổ biến của doanh nghiệp Việt Nam. "Nếu xây dựng thương hiệu, tạo ra sản phẩm trí tuệ mà không đăng ký bảo hộ thì đồng nghĩa với việc đang làm thuê cho người khác", ông Vũ Việt Anh cảnh báo.

Theo ông, việc đăng ký sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp và sáng chế cần được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu để bảo vệ thành quả nghiên cứu cũng như nâng cao giá trị doanh nghiệp trong tương lai.

Việc đăng ký sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp và sáng chế cần được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu để bảo vệ thành quả nghiên cứu cũng như nâng cao giá trị doanh nghiệp trong tương lai. Ảnh minh họa

Một điểm nghẽn khác là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thị trường. Nhiều công trình nghiên cứu vẫn nằm trong phòng thí nghiệm hoặc trên giá sách, trong khi các nhà khoa học thiếu kinh nghiệm thương mại hóa sản phẩm và doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn công nghệ phù hợp.

“Tuy nhiên, các quy định hiện hành của Việt Nam đã cởi mở rất nhiều. Các nhà khoa học hoàn toàn có thể đưa công trình nghiên cứu của mình vào doanh nghiệp dưới dạng tài sản góp vốn và được pháp luật bảo vệ”, Tiến sĩ Vũ Việt Anh cho biết.

NĂM KHUNG NĂNG LỰC CỐT LÕI CỦA DOANH NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Theo Tiến sĩ Vũ Việt Anh, doanh nghiệp khoa học công nghệ muốn phát triển bền vững cần xây dựng năm năng lực cốt lõi.

Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị.

Thứ hai, nâng cao năng lực công nghệ, đặc biệt là khả năng nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi. Trong trường hợp chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) riêng, doanh nghiệp có thể hợp tác với các nhà khoa học thông qua hình thức góp vốn bằng tri thức hoặc tham gia cổ phần trong doanh nghiệp. Theo ông Vũ Việt Anh, đây không phải là chi phí mà là khoản đầu tư giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp, đặc biệt khi tham gia các kế hoạch gọi vốn hoặc IPO trong tương lai.

Thứ ba, sở hữu trí tuệ phải trở thành nền tảng trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp khoa học công nghệ. Việc đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thương hiệu không chỉ giúp bảo vệ thành quả nghiên cứu mà còn góp phần nâng cao giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp.

Thứ tư, duy trì năng lực đổi mới sáng tạo liên tục trong sản phẩm và dịch vụ. Theo Tiến sĩ Vũ Việt Anh, các thị trường phát triển ngày càng ưu tiên những sản phẩm gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Bên cạnh giá trị công nghệ, doanh nghiệp cần đưa vào sản phẩm những yếu tố văn hóa, giá trị nhân văn, bản sắc địa phương và câu chuyện thương hiệu để gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Thứ năm, và cũng là năng lực quan trọng nhất, là khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đưa sản phẩm ra thị trường. Theo Tiến sĩ Vũ Việt Anh, giá trị của khoa học công nghệ chỉ thực sự được khẳng định khi được thị trường đón nhận.

"Không có thị trường thì trí tuệ vẫn chỉ nằm trên giá sách. Chỉ khi kết nối được với hệ thống thương mại toàn cầu, những giá trị và thương hiệu Việt Nam mới có thể vươn ra thế giới", ông nhấn mạnh.

Bảo Bình

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ