Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/7/2026

Quy định mới về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân
Ngày 9/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 278/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2025/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.
Quy định mới về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân hằng năm
Nghị định số 278/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 5 quy định về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân hằng năm.
Theo quy định mới, trên cơ sở kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện năm N do Bộ Công Thương ban hành, chi phí sản xuất, kinh doanh điện năm N-2 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, ước kết quả sản xuất kinh doanh điện năm N-1 (trong trường hợp chưa công bố chi phí sản xuất kinh doanh điện năm N-1), trước ngày 25 tháng 01 năm N Tập đoàn Điện lực Việt Nam tính toán giá bán lẻ điện bình quân theo công thức quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này, thực hiện yêu cầu về hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện như sau:
a) Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2% so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương về việc không điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân và lập hồ sơ gửi Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
b) Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm từ 1% trở lên so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành hoặc giá bán lẻ điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 2% đến dưới 5% so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập hồ sơ phương án giá bán lẻ điện bình quân báo cáo Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và cho ý kiến. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kê từ ngày nhận đủ hồ sơ phương án giá bán lẻ điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bộ Công Thương có trách nhiệm có ý kiến bằng văn bản về kết quả tính toán giá điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định việc điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện bình quân hoặc điều chỉnh tăng giá bán lẻ điện bình quân sau khi Bộ Công Thương có ý kiến bằng văn bản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện điều chỉnh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Quy định mới về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân trong năm
Đồng thời, Nghị định số 278/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 6 quy định về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân trong năm như sau:
"1. Trước ngày 25 tháng đầu tiên quý II, quý III và quý IV, Tập đoàn Điện lực Việt Nam xác định sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện thương phẩm cộng dồn từ đầu năm, ước sản lượng điện thương phẩm các tháng còn lại trong năm; xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm (bao gồm cả chi phí mua điện từ các nhà máy cung cấp dịch vụ phụ trợ), ước chi phí khâu phát điện các tháng còn lại trong năm theo thông số đầu vào cơ bản trong khâu phát điện và cập nhật các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá bán lẻ điện bình quân để tính toán lại giá bán lẻ điện bình quân theo công thức quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này (các thông số khác giữ nguyên không thay đổi), thực hiện yêu cầu về hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện như sau:
a) Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2% so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương về việc không điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân và lập hồ sơ gửi Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
b) Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm từ 1% trở lên so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành hoặc giá bán lẻ điện bình quân cần điều chỉnh tăng từ 2% đến dưới 5% so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập hồ sơ phương án giá bán lẻ điện bình quân báo cáo Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và cho ý kiến. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ phương án giá bán lẻ điện bình quân của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bộ Công Thương có trách nhiệm có ý kiến bằng văn bản về kết quả tính toán giá điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam quyết định việc điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện bình quân hoặc điều chỉnh tăng giá bán lẻ điện bình quân sau khi Bộ Công Thương có ý kiến bằng văn bản. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện điều chỉnh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Sửa đổi quy định kiểm tra điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân
Bên cạnh đó, Nghị định số 278/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 7 về kiểm tra điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân như sau:
1. Kiểm tra điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân
a) Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân cần điều chỉnh giảm mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam không điều chỉnh giảm, Bộ Công Thương có trách nhiệm yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện bình quân. Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu bằng văn bản của Bộ Công Thương trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu;
b) Trường hợp phát hiện có sai sót về kết quả tính toán giá điện trong quá trình Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát phương án giá bán lẻ điện bình quân do Tập đoàn Điện lực Việt Nam lập theo quy định tại khoản 2 Điều 4 và báo cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 6 Nghị định này, Bộ Công Thương có trách nhiệm yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam cập nhật, điều chỉnh phương án giá bán lẻ điện bình quân. Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu bằng văn bản của Bộ Công Thương trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Kiểm tra thực hiện các khâu của giá bán lẻ điện bình quân hằng năm
a) Trước ngày 30 tháng 6 năm N, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Bộ Công Thương chi phí thực tế thực hiện các khâu của năm N-1 tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan kiểm tra chi phí thực tế thực hiện các khâu năm N-1 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương được phép thuê tư vấn độc lập phối hợp thực hiện việc kiểm tra, thẩm tra chi phí thực tế thực hiện các khâu của năm N-1 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
b) Bộ Công Thương công bố công khai kết quả kiểm tra các chi phí thực tế thực hiện các khâu năm N-1 trên trang Thông tin điện tử của Bộ Công Thương;
c) Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định khoản 2 Điều này;
d) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện có sai sót về kết quả tính toán giá bán lẻ điện bình quân, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm cập nhật, điều chỉnh phương án giá bán lẻ điện bình quân trong các lần điều chỉnh tiếp theo.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 9/7/2026.

Kế hoạch thực hiện Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 09/7/2026 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các nội dung nêu trong Thông báo số 68-TB/VPTW, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam. Đồng thời, khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế; cụ thể hóa trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong bảo tồn, phát huy và nâng tầm nền y học cổ truyền Việt Nam phục vụ chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền
Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện, cụ thể như sau:
Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khẩn trương tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung Thông báo số 68-TB/VPTW và Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ thực hiện Thông báo số 68-TB/VPTW đến toàn bộ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động từng cấp, từng ngành, cơ quan, đơn vị nhằm tạo sự thống nhất, nâng cao và tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động của các cấp, các ngành về phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam.
Hoàn thiện thể chế, chính sách về y học cổ truyền, trong đó: rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đào tạo nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khám bệnh, chữa bệnh; thuốc cổ truyền, dược liệu; bảo hiểm y tế; tiêu chuẩn kỹ thuật và các cơ chế, chính sách liên quan.
Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù thúc đẩy phát triển y học cổ truyền trong tình hình mới. Xây dựng Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đẩy mạnh phát triển mô hình kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong toàn hệ thống y tế. Hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn, quy trình kỹ thuật kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại nhằm áp dụng thống nhất trong hệ thống khám, chữa bệnh.
Chuẩn hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, dưỡng sinh tại y tế cơ sở; khuyến khích và lan tỏa các biện pháp chăm sóc sức khỏe hiệu quả mà không cần dùng thuốc. Nâng cao năng lực hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền từ trung ương đến địa phương.
Phát triển dược liệu và công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia
Ngoài ra, Kế hoạch yêu cầu bảo tồn, khai thác hiệu quả và phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu quý của Việt Nam. Phát triển các vùng trồng dược liệu có giá trị cao đạt tiêu chuẩn GACP (ưu tiên tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với tạo sinh kế, giảm nghèo bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số), tiến tới tự chủ nguồn nguyên liệu dược liệu, khắc phục tình trạng phụ thuộc nhập khẩu.
Phát triển đồng bộ chuỗi giá trị dược liệu từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến chiết xuất, bào chế, chế biến sâu, sản xuất, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.
Kiểm soát chặt chẽ chất lượng, khắc phục tình trạng dược liệu giả, kém chất lượng. Tăng cường công tác xây dựng tiêu chuẩn chất lượng của dược liệu, vị thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, chú trọng dược liệu có nguồn gốc tại Việt Nam.
Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp dược liệu, sản xuất thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu; thu hút đầu tư các dự án công nghiệp hóa dược từ nguồn nguyên liệu dược liệu theo chuỗi giá trị từ nuôi trồng, chế biến sâu đến sản xuất thuốc có sự kết hợp của 04 nhà.
Đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam
Bên cạnh đó, Kế hoạch yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền. Số hóa kho tàng bài thuốc gia truyền, dược liệu và tri thức y học cổ truyền Việt Nam.
Tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hóa bài thuốc, vị thuốc, phương pháp điều trị; kiểm chứng hiệu quả điều trị bằng các bằng chứng khoa học.
Hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các bài thuốc, tri thức truyền thống, thương mại hóa các sản phẩm có giá trị, tiến tới đủ năng lực tham gia thị trường quốc tế.
Ưu tiên các chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia về y học cổ truyền; xây dựng, củng cố một số trung tâm y học cổ truyền mạnh tầm quốc gia, khu vực về nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất các sản phẩm từ dược liệu.
Phát triển các loại hình dịch vụ, sản phẩm y học cổ truyền phục vụ khách du lịch. Xây dựng mô hình du lịch sinh thái gắn với làng văn hóa, làng nuôi trồng dược liệu.
Xây dựng thương hiệu quốc gia cho dược liệu và sản phẩm y học cổ truyền Việt Nam, đưa công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế có giá trị cao và năng lực cạnh tranh quốc tế. Hỗ trợ công nhận sản phẩm OCOP cao cấp đối với dược liệu và sản phẩm từ dược liệu. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, quảng bá hình ảnh và giá trị y học cổ truyền Việt Nam ra thế giới.
Tăng cường công tác nắm bắt tình hình, trao đổi thông tin về chiến lược phát triển y dược cổ truyền của các nước tiên tiến, các giải pháp khoa học công nghệ, công trình nghiên cứu, bài thuốc, dược liệu quý; hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đầu tư, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, thu hút chuyên gia về y dược cổ truyền.
Phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền, nguồn nhân lực chất lượng cao và giữ gìn y đức
Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực đầu tư phát triển y học cổ truyền, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, cơ sở y dược tư nhân vào quá trình nghiên cứu, sản xuất, bào chế, chế biến dược liệu, thuốc cổ truyền chất lượng cao và phát triển hệ thống khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền, chuỗi cung ứng dịch vụ.
Tăng cường quản lý nhà nước, kiểm soát chặt chẽ hoạt động hành nghề, chất lượng dược liệu, thuốc và hoạt động quảng cáo; đấu tranh, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các hành vi buôn lậu, làm giả dược liệu, thuốc cổ truyền, trong đó có hoạt động lừa đảo, hành nghề y dược cổ truyền trái phép và trục lợi trên sức khỏe Nhân dân.
Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực y học cổ truyền; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên gia, nghiên cứu viên y học cổ truyền, thầy thuốc y học cổ truyền chất lượng cao, có khả năng kết hợp hài hòa y học cổ truyền với thành tựu y học hiện đại và giữ vững y đức.
Bố trí nhân lực vào vị trí việc làm công chức chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện quản lý nhà nước lĩnh vực y dược cổ truyền tại cơ quan chuyên môn về y tế thuộc UBND cấp tỉnh. Bố trí nhân lực thực hiện công tác chuyên môn về y học cổ truyền tại Trạm Y tế trực thuộc UBND cấp xã. Nghiên cứu, đề xuất cơ chế thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y học cổ truyền.
Xây dựng chuẩn Chương trình đào tạo ngành y học cổ truyền và khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học xây dựng chương trình đào tạo liên ngành giữa ngành y học cổ truyền với các ngành đào tạo khác như dược học cổ truyền, điều dưỡng y học cổ truyền, kỹ thuật y học cổ truyền, công nghệ dược liệu,... trình độ đại học; Chương trình đào tạo Châm cứu - Phục hồi chức năng, Phương tễ học, Nội khoa y học cổ truyền, Ngoại khoa y học cổ truyền, Phụ sản y học cổ truyền, Nhi khoa y học cổ truyền, Lão khoa y học cổ truyền, Ung bướu y học cổ truyền, Da liễu y học cổ truyền trình độ chuyên khoa, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ phù hợp với việc triển khai kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong chăm sóc sức khỏe người dân.
Các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về vai trò, giá trị của y học cổ truyền; định hướng dư luận, cung cấp thông tin chính thống, phản bác tin giả, thông tin sai lệch về lĩnh vực y học cổ truyền trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân.
Tôn vinh các danh y; biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo tồn và phát triển y học cổ truyền. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp trong công tác bảo tồn, kế thừa và phát triển y học cổ truyền.

Phê duyệt Đề án đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hoạt động một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thành những trung tâm đào tạo uy tín trong khu vực và thế giới
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 phê duyệt Đề án đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hoạt động một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thành những trung tâm đào tạo uy tín trong khu vực và thế giới (Đề án).
Mục tiêu của Đề án nhằm đầu tư phát triển Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Nha Trang và Trường Đại học Quy Nhơn thành các cơ sở giáo dục đại học lớn, giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ uy tín trong khu vực và thế giới; là hạt nhân dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, khởi nghiệp sáng tạo và các đô thị khoa học, đóng vai trò động lực cung ứng nguồn nhân lực và giải pháp khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, liên kết vùng bền vững của khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Đại học Huế giữ vai trò tiên phong về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học của vùng và cả nước
Đề án đặt ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như sau:
Đại học Huế phấn đấu phát triển thành đại học quốc gia, theo định hướng đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực và chuyển đổi số; giữ vai trò tiên phong, trọng điểm về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học của vùng và cả nước; giữ vai trò trung tâm học thuật, văn hóa và y tế chuyên sâu chất lượng cao của cả nước; là hạt nhân nòng cốt dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, đổi mới sáng tạo và phát triển mô hình đô thị đại học sinh thái gắn liền với không gian đô thị di sản đặc thù của thành phố Huế trực thuộc trung ương;
Ưu tiên bố trí không gian phát triển các cơ sở giáo dục đại học gắn với mô hình khu đô thị đại học tích hợp đa chức năng, bao gồm đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển đô thị, tạo động lực lan tỏa cho phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ;
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư, hạ tầng học đường thông minh và hiện đại hóa hệ thống phòng thí nghiệm để đi đầu trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; tập trung phát triển các lĩnh vực trọng điểm mũi nhọn gồm y dược chuyên sâu, công nghệ sinh học, khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, nông lâm nghiệp và thủy sản công nghệ cao, năng lượng sạch, công nghiệp văn hóa, du lịch di sản và dịch vụ kinh tế số; bảo đảm các ngành nghề mũi nhọn được đầu tư đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định quốc tế;
Nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành, phấn đấu đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ từ 60% trở lên, trong đó tối thiểu 20% là Giáo sư, Phó Giáo sư và 10% là giảng viên quốc tế; thu hút ít nhất 20 nhà khoa học hàng đầu thế giới đến giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo khoảng 50 giảng viên, nhà khoa học trẻ tài năng để dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo thế mạnh;
Tăng cường năng lực tự chủ tài chính gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phấn đấu đạt 10% - 15% tổng số nguồn thu tài chính từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo ngắn hạn và hoạt động dịch vụ.
Phấn đấu lọt vào Nhóm 300 trường đại học hàng đầu châu Á theo các bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín, khẳng định vị thế và năng lực cạnh tranh toàn cầu của hệ sinh thái giáo dục đại học vùng.
Đại học Đà Nẵng giữ vai trò hình mẫu quốc gia về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và là cực tăng trưởng dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục của vùng
Đại học Đà Nẵng phấn đấu phát triển thành đại học quốc gia, đại học trọng điểm quốc gia theo định hướng nghiên cứu đa ngành và chuyển đổi số, giữ vai trò hình mẫu quốc gia về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp công nghệ, chuyển đổi số và là cực tăng trưởng dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, đô thị khoa học của vùng;
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư đồng bộ hạ tầng khu đô thị đại học Hòa Quý - Điện Ngọc, giữ vai trò hạt nhân lõi liên kết mạng lưới giữa Nhà trường - Doanh nghiệp - Chính quyền để đi đầu trong đào tạo nhân lực công nghệ cao; tập trung phát triển các lĩnh vực trọng điểm gồm thiết kế vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, tự động hóa và công nghệ số; bảo đảm các chương trình đào tạo mũi nhọn được đầu tư đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định quốc tế;
Nâng cao toàn diện năng lực đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành, phấn đấu đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ từ 60% trở lên, trong đó tối thiểu 20% là Giáo sư, Phó Giáo sư và 15% là giảng viên quốc tế; thu hút ít nhất 50 nhà khoa học hàng đầu thế giới đến giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo khoảng 70 giảng viên, nhà khoa học trẻ tài năng để dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo thế mạnh;
Đột phá năng lực tự chủ tài chính gắn với thương mại hóa tri thức, phấn đấu nâng tỷ trọng doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt tối thiểu 35% trong cơ cấu tổng nguồn thu của đại học; phát triển mạnh mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off) với chỉ tiêu hình thành và vận hành hiệu quả ít nhất 50 doanh nghiệp mỗi năm;
Phấn đấu lọt vào Nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á, trong đó có ít nhất một ngành hoặc lĩnh vực thuộc Nhóm 100 thế giới theo các bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín, góp phần nâng cao vị thế toàn cầu của hệ sinh thái giáo dục đại học Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển đất nước.
Trường Đại học Vinh giữ vai trò trụ cột đào tạo và hạt nhân lõi dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục của tiểu vùng Bắc Trung Bộ
Trường Đại học Vinh phát triển theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, giữ vai trò trụ cột đào tạo và hạt nhân lõi dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của tiểu vùng Bắc Trung Bộ;
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Cơ sở 2 thành mô hình đô thị đại học vệ tinh thông minh nhằm mở rộng không gian phát triển; tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ các lĩnh vực trọng điểm gồm công nghệ kỹ thuật, máy tính và công nghệ thông tin, khoa học giáo dục, kinh doanh, tài chính - ngân hàng và bảo hiểm; phục vụ trực tiếp cho hành lang công nghiệp ven biển Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh và cực tăng trưởng Thanh Hóa; bảo đảm các ngành nghề mũi nhọn được đầu tư đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định quốc tế;
Nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành, phấn đấu đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ từ 50% trở lên, trong đó tối thiểu 20% là Giáo sư, Phó Giáo sư và 10% là giảng viên quốc tế; thu hút ít nhất 20 nhà khoa học hàng đầu thế giới đến giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo khoảng 30 giảng viên, nhà khoa học trẻ tài năng để dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo thế mạnh;
Tăng cường năng lực tự chủ tài chính gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phấn đấu đạt 10% - 15% tổng số nguồn thu tài chính từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo ngắn hạn và hoạt động dịch vụ;
Phấn đấu lọt vào Nhóm 50 trường đại học hàng đầu Đông Nam Á và Nhóm 500 trường đại học hàng đầu châu Á theo các bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín.
Trường Đại học Nha Trang giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao cho toàn vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Trường Đại học Nha Trang phát triển theo định hướng ứng dụng, giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo lớn của khu vực; mở rộng không gian phục vụ và cung ứng nguồn lực tri thức hỗ trợ trực tiếp cho toàn vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên;
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu về khoa học, công nghệ biển, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm liên ngành phục vụ nghiên cứu chuyên sâu và bứt phá chất lượng hoạt động chuyên môn; đi đầu trong đào tạo và chuyển giao công nghệ khối ngành mũi nhọn gồm khoa học công nghệ biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản công nghệ cao, công nghệ thực phẩm, du lịch và dịch vụ biển; đột phá đào tạo ngành hàng hải và logistics, quản trị cảng nước sâu phục vụ các khu kinh tế ven biển và phát triển hệ thống chuỗi cung ứng lạnh kết nối nông sản Tây Nguyên xuất khẩu; bảo đảm các ngành nghề mũi nhọn được đầu tư đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định quốc tế;
Nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành, phấn đấu đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ từ 50% trở lên, trong đó tối thiểu 15% là Giáo sư, Phó Giáo sư và 5% là giảng viên quốc tế; thu hút ít nhất 10 nhà khoa học hàng đầu thế giới đến giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo khoảng 20 giảng viên, nhà khoa học trẻ tài năng để dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo thế mạnh;
Tăng cường năng lực tự chủ tài chính gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phấn đấu đạt 10% - 15% tổng số nguồn thu tài chính từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo ngắn hạn và hoạt động dịch vụ;
Phấn đấu đưa các lĩnh vực, ngành nghề thế mạnh về biển và thủy sản lọt vào Nhóm đầu khu vực Đông Nam Á theo các tiêu chuẩn đánh giá và bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Trường Đại học Quy Nhơn là đầu mối liên kết cung ứng nguồn lực tri thức khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và vùng Tây Nguyên
Trường Đại học Quy Nhơn phát triển theo hướng đa ngành, giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo lớn của tiểu vùng Trung Trung Bộ; là đầu mối liên kết cung ứng nguồn lực tri thức phục vụ phát triển bền vững khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và vùng Tây Nguyên;
Tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng phòng thí nghiệm và nâng cao quy mô để trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu lớn về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và điện tử của tiểu vùng; đi đầu trong đào tạo nhân lực chất lượng cao các lĩnh vực khoa học sư phạm, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kinh tế; bứt phá đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, thương mại biên mậu và dịch vụ liên quốc gia phục vụ cho các nước lân cận dọc theo hành lang kinh tế trục ngang kết nối cửa khẩu quốc tế Bờ Y; góp phần để khu vực Đà Nẵng - Chu Lai, Quy Nhơn là trung tâm đào tạo và nghiên cứu về công nghệ thông tin, điện tử, công nghiệp công nghệ cao, logistics và kinh tế biển; bảo đảm các ngành nghề mũi nhọn được đầu tư đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định quốc tế;
Nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành, phấn đấu đạt tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ Tiến sĩ từ 50% trở lên, trong đó tối thiểu 15% là Giáo sư, Phó Giáo sư và 5% là giảng viên quốc tế; thu hút ít nhất 10 nhà khoa học hàng đầu thế giới đến giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo khoảng 20 giảng viên, nhà khoa học trẻ tài năng để dẫn dắt các lĩnh vực đào tạo thế mạnh;
Tăng cường năng lực tự chủ tài chính gắn với thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phấn đấu đạt 10% - 15% tổng số nguồn thu tài chính từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo ngắn hạn và hoạt động dịch vụ;
Phấn đấu đưa các lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn lọt vào Nhóm đầu khu vực Đông Nam Á theo các tiêu chuẩn đánh giá và bảng xếp hạng đại học quốc tế uy tín.
Đề án cũng định hướng tới năm 2025, phát triển hệ thống các cơ sở giáo dục đại học trong Đề án thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ uy tín ngang tầm khu vực châu Á và thế giới; trong đó có ít nhất 02 cơ sở giáo dục đại học lọt vào Nhóm 1.000 trường đại học hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín; làm chủ công nghệ lõi và tiên phong dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn về trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, thiết kế vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, y sinh, khoa học vật liệu, kinh tế biển, thủy sản, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp sáng tạo; hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và công nghệ theo mô hình đại học thông minh, xanh, tuần hoàn, bảo đảm các khu đô thị đại học tích hợp đạt mức phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 (Net Zero) theo lộ trình quy định.
5 nhiệm vụ, giải pháp
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp như sau: (1) Hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất và không gian phát triển; phát triển hạ tầng số, hạ tầng khoa học, công nghệ tiên tiến và hạ tầng năng lượng xanh trong giáo dục đại học. (2) Nâng cao năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế; thúc đẩy cơ chế liên kết, đặt hàng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ. (3) Xây dựng, phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; đổi mới cấu trúc ngành nghề và nâng cao chất lượng đào tạo công nghệ chiến lược theo chuẩn quốc tế. (4) Phát triển hệ sinh thái liên kết giữa nhà trường, địa phương và doanh nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững của vùng. (5) Đẩy mạnh và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục đại học.

Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 364/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. 6 tháng đầu năm, các lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý 67.685 vụ việc vi phạm
Công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả luôn được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong 6 tháng đầu năm 2026, mặc dù nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, do yếu tố khách quan và chủ quan; song các bộ, ngành, địa phương và các lực lượng chức năng đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần ổn định, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng thu ngân sách Nhà nước, bảo đảm an ninh, trật tự, quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; được Nhân dân đồng tình ủng hộ.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, các lực lượng chức năng, đơn vị, địa phương bắt giữ, xử lý 67.685 vụ việc vi phạm (tăng 36,15% so với cùng kỳ năm 2025); tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt 9.647,747 tỷ đồng (tăng 49,36% so với cùng kỳ); khởi tố 1.512 vụ án, 2.570 đối tượng. Trong đó, biểu dương lực lượng Công an đã phát hiện, khởi tố, xử lý nhiều vụ án, vụ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ với quy mô rất lớn.
Kết quả trên đã góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội, tăng cường răn đe, góp phần củng cố sản xuất - kinh doanh lành mạnh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; củng cố mạnh mẽ lòng tin của Nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; được dư luận, cộng đồng doanh nghiệp cũng như các đối tác quốc tế đồng tình, ủng hộ.
Kết quả công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tuy có nhiều chuyển biến nhưng chưa thực sự vững chắc, tình trạng hàng hóa nhập lậu, giả mạo nguồn gốc xuất xứ vẫn diễn biến phức tạp; trong nội địa, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra ở nhiều nơi, gia tăng trên môi trường thương mại điện tử với quy mô lớn, thời gian dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Nhân dân; tình trạng mua bán trái phép hóa đơn, gian lận thuế và lợi dụng điều kiện thuận lợi, thông thoáng trong chính sách nhập khẩu để buôn lậu, gian lận thương mại chưa được phát hiện, xử lý triệt để...
Xây dựng kế hoạch chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả phù hợp với thực tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, hoạt động thương mại điện tử, logistics, thanh toán điện tử xuyên biên giới phát triển mạnh cùng với áp lực lạm phát, biến động chuỗi cung ứng toàn cầu và nhu cầu tiêu dùng trong nước gia tăng, tình hình buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tiếp tục có xu hướng gia tăng cả về quy mô, tính chất và mức độ tinh vi.
Để nâng cao hiệu quả công tác năm 2026 và các năm tiếp theo, Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, lực lượng chức năng (Công an, Hải quan, Biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường, các cơ quan kiểm tra chuyên ngành) tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; trong đó tập trung quyết liệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 397/NQ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến năm 2030; Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2026 về tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới; Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 05 tháng 5 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về tập trung chỉ đạo quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và các chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ về xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả phù hợp diễn biến tình hình địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ; đặc biệt tập trung đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động mua bán, vận chuyển trái phép ma túy, buôn lậu, vận chuyển trái phép vàng, ngoại tệ, thuốc lá thế hệ mới, hàng hóa giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đi các nước khác; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, nhất là các mặt hàng thực phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ, các mặt hàng ảnh hưởng đến sức khỏe của Nhân dân.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Các bộ, ngành, lực lượng chức năng tiếp tục rà soát, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, tập trung sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Hải quan, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ…; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; Bộ Công Thương và Bộ Công an khẩn trương phối hợp xây dựng dữ liệu về truy xuất nguồn gốc hàng hóa; tăng cường kết nối, chia sẻ, cung cấp thông tin; triển khai và nâng cao hiệu quả các đường dây nóng, đảm bảo thu thập, xử lý kịp thời tin báo từ doanh nghiệp, Nhân dân.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gắn với công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của các bộ, ngành, địa phương đối với công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và lực lượng thực thi nhiệm vụ; giáo dục cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không tiếp tay, bảo kê, bao che cho hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu để khích lệ, động viên tinh thần, lan tỏa gương người tốt, việc tốt trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Phó Thủ tướng đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông Tấn xã Việt Nam tăng cường vận động, phổ biến pháp luật, tuyên truyền những nguy hại, ảnh hưởng xấu của buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức và Nhân dân; tuyên truyền, phổ biến các thủ đoạn, phương thức gian lận, lừa đảo để Nhân dân biết, nâng cao cảnh giác và kịp thời thông tin cho cơ quan có thẩm quyền; bên cạnh đó phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và cơ quan báo chí.
Phó Thủ tướng giao Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chủ động, tích cực trong công tác theo dõi tình hình, kịp thời tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo tiếp tục tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm sở hữu trí tuệ, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu…; tham mưu, theo dõi việc triển khai thực hiện Quy chế về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia; sớm hoàn thiện, trình Phó Thủ tướng, Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành Quyết định quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo.
Tham mưu, đôn đốc triển khai thực hiện Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2026 về tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới; tham mưu sửa đổi Quyết định số 19/2016/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong năm 2026. Tiếp tục tham mưu rà soát, xử lý khó khăn, vướng mắc trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả...

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm việc với TPHCM - Ảnh: VGP/Phương Nguyên.
Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 365/TB-VPCP ngày 10/7/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 06/7/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã chủ trì buổi làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026, giải ngân vốn đầu tư công, các dự án trọng điểm của Thành phố và các giải pháp 06 tháng cuối năm 2026.
Thành phố Hồ Chí Minh đạt kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực
Tại Thông báo kết luận, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương những nỗ lực, kết quả mà Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đạt được trong 06 tháng đầu năm, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của cả nước.
Trong 06 tháng đầu năm 2026, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. GRDP tăng 8,55% so với cùng kỳ, cao hơn so với tăng trưởng GDP cả nước (tăng 8,18%) và là mức tăng cao nhất trong 10 năm qua. Tổng thu ngân sách nhà nước bằng 59,4% dự toán Trung ương giao và tăng 25,6% so với cùng kỳ. Thu hút FDI đạt gần 7,5 tỷ USD, tăng 89,68% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì tăng trưởng ổn định; du lịch tiếp tục là điểm sáng, lượng khách quốc tế và khách nội địa đều tăng khá. Giải ngân vốn đầu tư công 06 tháng đạt 34,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Bên cạnh kết quả đạt được, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: GRDP 06 tháng tăng khá nhưng chưa đạt kịch bản đề ra (10,04%), tạo áp lực cho các tháng còn lại để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm (10,2%). Các chỉ số sản xuất công nghiệp và tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng khá (lần lượt là 10,9% và 11,8%) nhưng còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu cả năm (lần lượt là 12,2% và 15%). Giải ngân đầu tư công vẫn còn chậm, chưa có chuyển biến rõ nét (mới đạt 34,9% kế hoạch), xếp thứ 24/34 địa phương, thấp hơn bình quân cả nước (35,5%), trong đó còn nhiều dự án chưa giải ngân hoặc tỷ lệ giải ngân rất thấp. Tiến độ triển khai các dự án trọng điểm còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu; vẫn còn khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; tỷ lệ giải ngân thấp; năng lực triển khai và cơ chế phối hợp còn hạn chế, vẫn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm …
Xác định rõ động lực, dư địa tăng trưởng mới đối với từng ngành, lĩnh vực
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong 06 tháng cuối năm 2026 như sau:
Quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương ngày 04/7/2026; Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/6/2026.
Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm được giao tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026, nhất là các nhiệm vụ giao hoàn thành trong năm 2026. Nghiên cứu kỹ Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 và Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026 của Chính phủ để phân tích, đánh giá chính xác nguyên nhân, đề ra các giải pháp quyết liệt, mạnh mẽ, khả thi, quyết tâm đạt và vượt các mục tiêu đề ra trong năm 2026.
Bên cạnh đó, khẩn trương rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng của từng ngành, lĩnh vực, xã, phường, đặc khu hàng tháng, hàng quý trong các tháng cuối năm, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành tăng trưởng Quý III, Quý IV/2026 để GRDP của Thành phố tăng trưởng trên 10% năm 2026; đánh giá đúng, trúng các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhận diện đầy đủ các điểm nghẽn, tồn tại, hạn chế; xác định rõ động lực và dư địa tăng trưởng mới để xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, khả thi đối với từng ngành, lĩnh vực; huy động mọi nguồn lực, tập trung cao độ cho các tháng cuối năm, trong đó chú trọng các lĩnh vực có tăng trưởng 06 tháng đầu năm đạt thấp và rất thấp so với mục tiêu tăng trưởng cả năm; các ngành có quy mô lớn hoặc có vai trò động lực đối với ngành của cả nước và còn nhiều dư địa tăng trưởng (bán buôn, bán lẻ; dịch vụ lưu trú và ăn uống; dược phẩm…).
Công khai các dự án, công trình chậm tiến độ, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong các tháng cuối năm; thường xuyên rà soát, đánh giá, xác định rõ những tồn tại, hạn chế ở từng khâu để kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả; tập trung tháo gỡ các nút thắt trong công tác giải phóng mặt bằng, không để tái diễn tình trạng dự án chờ mặt bằng.
Xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, từng tháng, từng quý; công khai các dự án, công trình chậm tiến độ, tiếp tục thực hiện nghiêm việc gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân.Kiểm tra, rà soát, xử lý đối với các dự án được bố trí kế hoạch vốn lớn nhưng đến nay chưa giải ngân hoặc giải ngân rất thấp.
Đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm để sớm tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng và mở ra không gian phát triển mới. Tập trung thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 343/TB-VPCP ngày 01/7/2026. Theo dõi sát tiến độ, nhất là đối với các dự án chậm triển khai; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là về giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà đầu tư, nguồn cung cũng như sự biến động của giá vật liệu xây dựng.
Triển khai hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về phát triển hệ thống đường sắt đô thị; đẩy nhanh hơn nữa công tác chuẩn bị đầu tư, các thủ tục liên quan, giải phóng mặt bằng và triển khai thi công các tuyến đường sắt đô thị đã được phê duyệt, bảo đảm hoàn thành đúng và vượt kế hoạch.
Chủ động tháo gõ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 và Kết luận số 24-KL/TW ngày 13/4/2026. Khẩn trương phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu phương án, lộ trình phù hợp để di dời các cảng biển ra khỏi khu vực trung tâm Thành phố nhằm giảm ùn tắc giao thông và giữ gìn môi trường bền vững.

Khẩn trương triển khai hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
Văn phòng Chính phủ vừa có Văn bản số 6660/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà về việc triển khai hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Công văn nêu: Xét đề nghị của Bộ Quốc phòng về việc triển khai hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột nát, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã biểu dương, đánh giá cao Bộ Quốc phòng và 24 địa phương đã tích cực, chủ động triển khai hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới 1.422 căn nhà cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột nát; trong đó đã hoàn thành, bàn giao, đưa vào sử dụng 410 căn nhà.
10 tỉnh, thành phố khẩn trương khởi công vào ngày 15/7/2026
Phó Thủ tướng giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân 10 tỉnh, thành phố chưa triển khai việc khởi công, khẩn trương chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết và tổ chức lễ khởi công đồng loạt việc hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột nát vào ngày 15 tháng 7 năm 2026 bảo đảm trang trọng, thiết thực, hiệu quả, góp phần khơi dậy tinh thần thi đua, lan tỏa ý nghĩa nhân văn sâu sắc của chương trình hướng tới Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).
Bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, đúng mục đích
Đồng thời, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương rà soát kỹ, bảo đảm việc hỗ trợ đúng đối tượng, đúng mục đích và không vượt quá hạn mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước như Đề án các hoạt động Kỷ niệm 80 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ đã được Ban Bí thư thông qua; đồng thời huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp ủy, chính quyền, tích cực kêu gọi, vận động sự tham gia, ủng hộ, đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trên địa bàn để bổ sung thêm nguồn lực thực hiện, đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm sớm hoàn thành, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng đời sống cho các đối tượng được hỗ trợ.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo khẩn trương chủ trì, đôn đốc các địa phương hoàn trả kinh phí vào Quỹ "Vì người nghèo" trước ngày 24 tháng 7 năm 2026 để có thêm nguồn lực thực hiện chính sách hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới nhà ở đối với con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột nát.
Bộ Quốc phòng căn cứ nhu cầu thực tế về hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới nhà ở của từng địa phương, chủ trì rà soát, đề xuất phương án phân bổ cụ thể số tiền hỗ trợ từ Quỹ "Vì người nghèo"; trước mắt khẩn trương hoàn thiện phương án phân bổ chi tiết cho các địa phương đối với số tiền hiện có của Quỹ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước ngày 12 tháng 7 năm 2026.
Đối với phần kinh phí còn thiếu, Bộ Quốc phòng căn cứ hướng dẫn của Bộ Tài chính về nguyên tắc hỗ trợ của ngân sách trung ương đối với địa phương và nhu cầu bổ sung thực tế của từng địa phương để tổng hợp, đề xuất phương án hỗ trợ cụ thể, gửi Bộ Tài chính trong tháng 7 năm 2026 để thẩm định, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Bộ Tài chính khẩn trương hướng dẫn nguyên tắc hỗ trợ của ngân sách trung ương đối với địa phương theo đúng chỉ đạo tại Thông báo số 330/TB-VPCP ngày 25 tháng 6 năm 2026; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ này.
Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam tăng cường thông tin, tuyên truyền về Lễ khởi công cũng như quá trình triển khai thực hiện; đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ này, kịp thời phản ánh các mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, qua đó góp phần lan tỏa ý nghĩa nhân văn của chương trình, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và động lực để các địa phương đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành các mục tiêu đặt ra.

Hoàn thiện, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đường sắt đô thị trong tháng 7/2026
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 6696/VPCP-CN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc áp dụng và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đường sắt đô thị.
Tại Văn bản trên, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng theo chức năng, nhiệm vụ được giao khẩn trương hướng dẫn các địa phương về việc áp dụng Bộ thông số kỹ thuật cơ bản dùng chung, danh mục quy chuẩn kỹ thuật và danh mục tiêu chuẩn chủ yếu cho đường sắt đô thị để các địa phương, chủ đầu tư lựa chọn, áp dụng cho các dự án theo đúng quy định, bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, liên thông, tiên tiến, hiện đại và phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp đường sắt.
Bộ Xây dựng khẩn trương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các địa phương tiến hành rà soát, hoàn thiện để ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) đối với đường sắt đô thị (loại hình Metro) trong tháng 7 năm 2026.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, cơ quan liên quan tổ chức xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) cho lĩnh vực đường sắt đô thị, bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, liên thông, tiên tiến, hiện đại và phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp đường sắt; định kỳ rà soát, cập nhật danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phù hợp với tiến bộ công nghệ và điều kiện thực tế, bảo đảm đáp ứng các mục tiêu đã được xác định tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo trong nước trong công tác đào tạo chuyên sâu về tiêu chuẩn hóa đường sắt; tổ chức nghiên cứu học tập, tiếp thu kinh nghiệm về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn của các quốc gia, khu vực có hệ thống đường sắt phát triển như: châu Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...
Áp dụng các tiêu chuẩn có tính mở, hiện đại
Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương căn cứ Bộ thông số kỹ thuật cơ bản dùng chung và Danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chủ yếu theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng, chủ động tổ chức xem xét, lựa chọn phê duyệt các tiêu chuẩn cụ thể để áp dụng cho các dự án đường sắt đô thị trên địa bàn, trên cơ sở ưu tiên việc áp dụng các tiêu chuẩn có tính mở, hiện đại, có khả năng chuyển giao công nghệ; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Bộ thông số kỹ thuật cơ bản dùng chung; trong quá trình triển khai các dự án, tổng hợp kết quả áp dụng, các yêu cầu kỹ thuật và vướng mắc phát sinh, phối hợp với Bộ Xây dựng để nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện Bộ thông số kỹ thuật cơ bản dùng chung.
Khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch đô thị và quy hoạch đường sắt đô thị để bảo đảm khả năng kết nối hiệu quả giữa các tuyến trong cùng hành lang vận tải, kết nối với các phương thức vận tải khác, hiệu quả đầu tư; phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong việc tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng để hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về đường sắt đô thị.
Xây dựng và triển khai Đề án phát triển công nghiệp đường sắt
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan xây dựng, trình duyệt và triển khai Đề án phát triển công nghiệp đường sắt, trong đó xác định rõ lộ trình chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa theo từng giai đoạn, ưu tiên hình thành năng lực sản xuất trong nước đối với các cấu kiện, thiết bị có hàm lượng công nghệ phù hợp; thúc đẩy nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các Bộ, ngành, địa phương liên quan phối hợp với Bộ Xây dựng trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về đường sắt đô thị.

Tân Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Y Nhuân Byă (thứ 2 từ trái qua)
Thủ tướng phê chuẩn kết quả bầu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1246/QĐ-TTg phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Y Nhuân Byă, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký (08/7/2026)./.
52 phút trước
1 giờ trước
14 phút trước
5 phút trước
2 phút trước
9 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
11 phút trước
13 phút trước
13 phút trước
15 phút trước
15 phút trước
15 phút trước