🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Cần tháo gỡ những điểm nghẽn nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ĐBSCL

22 ngày trước
Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tuy có nền tảng đào tạo nhưng còn thiếu hụt về quy mô, chất lượng và khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo.

PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ - Ảnh: Văn Kim Khanh

Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Đồng Chủ tịch Liên minh các cơ quan nghiên cứu ĐBSCL.

- Thưa PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng, từ nghiên cứu, ông đánh giá như thế nào về bức tranh tổng thể nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của TP.Cần Thơ nói riêng cũng như vùng ĐBSCL nói chung hiện nay?

- PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng: Qua nghiên cứu, có thể khẳng định rằng nguồn nhân lực khoa học công nghệ (KHCN) của vùng ĐBSCL trong đó có TP.Cần Thơ đã hình thành được nền tảng ban đầu, song vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển vùng trong bối cảnh mới. Cần Thơ hiện là trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn nhất của vùng, với lực lượng nhân lực KHCN tập trung chủ yếu tại các trường đại học, viện nghiên cứu và đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo số liệu thống kê năm 2024, TP.Cần Thơ có gần 9.000 nhân lực KHCN, trong đó tỷ lệ nhân lực có trình độ sau đại học chiếm gần một nửa. Đây là một lợi thế so với nhiều địa phương khác trong vùng. Tuy nhiên, nếu đặt trong so sánh với các trung tâm khoa học lớn của cả nước như Hà Nội hay TP.HCM, quy mô và chất lượng nguồn nhân lực KHCN của Cần Thơ cũng như ĐBSCL vẫn còn khoảng cách khá lớn.

- PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng: Qua nghiên cứu, có thể khẳng định rằng nguồn nhân lực KHCN của ĐBSCL đã hình thành được nền tảng ban đầu, song vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển vùng trong bối cảnh mới. Cần Thơ hiện là trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn nhất của vùng, với lực lượng nhân lực KHCN tập trung chủ yếu tại các trường đại học, viện nghiên cứu và đơn vị sự nghiệp công lập.

ĐBSCL thiếu hụt nhân lực KHCN chất lượng cao - Ảnh: Văn Kim Khanh

Đáng chú ý, nhân lực KHCN của vùng phân bố chưa đồng đều, tập trung chủ yếu trong khu vực công và giáo dục đại học, trong khi khu vực doanh nghiệp – nơi giữ vai trò then chốt trong đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu – lại thiếu hụt nghiêm trọng. Điều này làm giảm hiệu quả lan tỏa của khoa học công nghệ đối với phát triển kinh tế – xã hội vùng.

- Nghiên cứu của ông cũng chỉ ra nhiều thách thức đối với nguồn nhân lực KHCN ĐBSCL. Theo ông, những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là gì?

- PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng: Có ba điểm nghẽn lớn nổi bật. Thứ nhất là quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực KHCN còn hạn chế. ĐBSCL chỉ chiếm khoảng 7% số cơ sở giáo dục đại học của cả nước, trong khi dân số vùng chiếm hơn 17%. Điều này dẫn đến tỷ lệ nhân lực KHCN trình độ cao của vùng thấp hơn mức trung bình quốc gia.

Thứ hai là chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghệ mới. Mặc dù tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học khá cao, nhưng số lượng tiến sĩ, chuyên gia đầu ngành và nhân lực làm chủ các công nghệ mới như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học hiện đại còn rất hạn chế. Đây là rào cản lớn trong bối cảnh vùng đang chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ ba là mối liên kết yếu giữa đào tạo – nghiên cứu – doanh nghiệp. Phần lớn hoạt động nghiên cứu khoa học vẫn tập trung trong trường và viện, trong khi doanh nghiệp ít tham gia đặt hàng, đầu tư R&D hay tiếp nhận công nghệ. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa hoặc chỉ dừng ở mô hình thử nghiệm quy mô nhỏ.

Những nhà nghiên cứu ở Viện lúa ĐBSCL đi thực nghiệm - Ảnh: Văn Kim khanh

- Theo ông, vai trò của TP.Cần Thơ trong phát triển nguồn nhân lực KHCN cho toàn vùng ĐBSCL được thể hiện như thế nào?

- PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng: TP.Cần Thơ giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là đô thị trung tâm và hạt nhân khoa học – công nghệ của vùng ĐBSCL, theo định hướng tại Quy hoạch vùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thành phố hội tụ hệ thống cơ sở đào tạo và nghiên cứu lớn nhất vùng, trong đó Đại học Cần Thơ là đại học trọng điểm quốc gia, mỗi năm cung cấp hàng nghìn kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.

Không chỉ là nơi đào tạo, Cần Thơ còn là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chủ lực trong các lĩnh vực then chốt của vùng như nông nghiệp, thủy sản, tài nguyên nước, môi trường và y tế. Tuy nhiên, để thực sự phát huy vai trò dẫn dắt, Cần Thơ cần vượt qua giới hạn phát triển theo địa giới hành chính, chuyển sang tư duy phát triển nguồn nhân lực mang tính liên vùng, gắn đào tạo – nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của toàn ĐBSCL.

Nếu Cần Thơ được đầu tư đúng mức về hạ tầng nghiên cứu, cơ chế tài chính và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao, thành phố hoàn toàn có thể trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, điều phối các hoạt động R&D và phát triển nhân lực KHCN cho toàn vùng.

- Từ các phân tích trong nghiên cứu, ông đề xuất những giải pháp trọng tâm nào nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực KHCN của ĐBSCL trong thời gian tới?

- PGS-TS. Vũ Tuấn Hưng: Trước hết, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KHCN mang tính vùng, trong đó xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học thủy sản, quản lý tài nguyên nước, môi trường, logistics và chuyển đổi số. Chiến lược này phải gắn chặt với nhu cầu phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu của ĐBSCL.

Sinh viên Đại học Cần Thơ tham tìm hiểu về KHCN tại triển lãm tháng 12.2025 tại Cần Thơ - Ảnh: V.K.K

Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, theo hướng tăng đào tạo sau đại học, đào tạo liên ngành và gắn chặt với thực tiễn sản xuất – kinh doanh. Các trường đại học, đặc biệt là Đại học Cần Thơ, cần được đầu tư để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế.

Thứ ba, phải hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân lực KHCN. Không chỉ hỗ trợ tài chính ban đầu, mà quan trọng hơn là tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi, giảm thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ và ghi nhận xứng đáng đóng góp của nhà khoa học. Song song đó, cần thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động KHCN, coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và phát triển nhân lực KHCN, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung cho toàn vùng, qua đó nâng cao hiệu quả dự báo, điều phối và sử dụng nguồn nhân lực. Đây là nền tảng quan trọng để ĐBSCL khai thác tốt hơn tiềm năng khoa học công nghệ và phát triển bền vững trong dài hạn.

Văn Kim Khanh

Home Icon VỀ TRANG CHỦ