🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Cần tăng cường lồng ghép giới khi xây dựng các chính sách về văn hóa, thể thao và du lịch

5 giờ trước
Phụ nữ hiện diện ở hầu hết các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, từ nghệ sĩ, vận động viên đến nghệ nhân, hướng dẫn viên hay người thực hành di sản. Thế nhưng, phía sau những đóng góp ấy vẫn còn những rào cản về cơ hội phát triển, thu nhập, môi trường làm việc và định kiến giới.

Sự tham gia của phụ nữ góp phần tạo nên những góc nhìn đa dạng, gần gũi hơn trong các sản phẩm văn hóa

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng dự án sửa đổi nhiều luật trong lĩnh vực này, ThS, Luật gia Nguyễn Thị Hồng Vân (Giám đốc Công ty TNHH Giáo dục & Đào tạo Hà Vân), cho rằng, đây là dịp để chính sách tiến gần hơn với thực tiễn, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực, được bảo vệ và ghi nhận xứng đáng.

ThS, Luật gia Nguyễn Thị Hồng Vân

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thể dục, thể thao, du lịch, điện ảnh, thư viện, di sản văn hóa và quảng cáo. Theo bà, đây có phải là thời điểm thích hợp để nhìn lại các chính sách liên quan đến phụ nữ?

Tôi cho rằng, đây là thời điểm rất phù hợp để nhìn lại những vấn đề liên quan đến phụ nữ trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Những năm qua, pháp luật đã khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế, phụ nữ vẫn gặp những rào cản nhất định khiến cơ hội phát triển chưa thật sự bình đẳng. Có những khoảng cách không nằm ở quy định mà nằm trong môi trường làm việc, quan niệm xã hội và những định kiến đã tồn tại trong thời gian dài.

Trong thể thao, chúng ta tự hào khi nhiều nữ vận động viên mang vinh quang về cho đất nước. Nhưng phía sau những tấm huy chương là áp lực về tuổi nghề, chấn thương, thu nhập và cả những trăn trở khi lập gia đình, sinh con. Nhiều vận động viên nữ phải đối mặt với bài toán sau khi rời sàn đấu, bởi thời gian thi đấu chuyên nghiệp thường rất ngắn.

Trong điện ảnh, quảng cáo và các sản phẩm văn hóa, hình ảnh phụ nữ cũng cần được nhìn nhận đa chiều hơn. Thực tế vẫn còn những cách thể hiện vô tình gắn phụ nữ với vai trò nội trợ, hy sinh hoặc khai thác ngoại hình như một yếu tố thu hút sự chú ý. Nếu những hình ảnh này xuất hiện thường xuyên, chúng có thể góp phần duy trì những khuôn mẫu giới trong xã hội.

Ở lĩnh vực du lịch, phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng, từ hướng dẫn viên, nhân viên lưu trú đến những người làm du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm dễ chịu áp lực nghề nghiệp, đối mặt với nguy cơ bị quấy rối hoặc làm việc trong điều kiện chưa thật sự an toàn.

Điều khiến tôi trăn trở là những nữ nghệ nhân và người thực hành di sản. Họ đang âm thầm gìn giữ nhiều giá trị văn hóa quý báu nhưng cuộc sống còn không ít khó khăn. Có người vừa làm nghề, vừa tự bỏ kinh phí để truyền dạy cho thế hệ sau. Nếu người giữ di sản không thể sống được bằng nghề thì việc trao truyền sẽ gặp nhiều thách thức.

Vì vậy, tôi mong lần sửa đổi này sẽ không chỉ dừng ở việc bảo đảm quyền tham gia của phụ nữ mà cần hướng tới việc tạo ra cơ hội phát triển thực chất, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

- Dự thảo cũng đặt vấn đề lồng ghép bình đẳng giới, chống định kiến giới trong các sản phẩm văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước, theo bà, cần triển khai như thế nào để đạt hiệu quả?

Tôi rất đồng tình với định hướng này. Một tác phẩm được đầu tư bằng ngân sách nhà nước không chỉ cần có giá trị nghệ thuật mà còn cần góp phần lan tỏa những giá trị tích cực trong xã hội. Lồng ghép bình đẳng giới không có nghĩa là giới hạn sự sáng tạo của nghệ sĩ. Ngược lại, đây là cách khuyến khích các tác phẩm có góc nhìn phong phú hơn, phản ánh đúng sự đa dạng trong vai trò của phụ nữ và nam giới.

Chúng ta cần thấy hình ảnh phụ nữ trong văn hóa không chỉ bó hẹp trong những vai trò quen thuộc. Phụ nữ có thể là nhà lãnh đạo, nhà khoa học, doanh nhân, nghệ sĩ, vận động viên hay bất kỳ vị trí nào trong đời sống xã hội.

Bên cạnh nội dung tác phẩm, cũng cần quan tâm đến sự tham gia của phụ nữ trong quá trình sáng tạo, từ đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất đến các vị trí chuyên môn khác. Khi phụ nữ có tiếng nói nhiều hơn trong quá trình tạo ra sản phẩm văn hóa, những góc nhìn trong tác phẩm cũng sẽ đa dạng và gần với đời sống hơn.

Điều quan trọng là việc lồng ghép bình đẳng giới cần được thực hiện từ khâu xây dựng dự án, thẩm định đến đánh giá sản phẩm cuối cùng để tránh tình trạng chỉ dừng lại ở định hướng.

- Bà nhìn nhận thế nào về việc cần xây dựng môi trường làm việc an toàn cho phụ nữ trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch?

Đây là một nội dung rất quan trọng. Trong thực tế, không ít nữ nghệ sĩ, vận động viên, hướng dẫn viên du lịch hay người lao động trong ngành dịch vụ từng gặp những hành vi quấy rối bằng lời nói hoặc hành động nhưng còn e ngại khi lên tiếng vì sợ ảnh hưởng đến công việc hoặc danh tiếng.

Một môi trường làm việc chuyên nghiệp không chỉ được đánh giá bằng thành tích hay hiệu quả kinh doanh mà còn bằng cách đối xử với những người đang tạo ra giá trị. Theo tôi, các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp cần có quy trình rõ ràng để tiếp nhận, xử lý phản ánh, đồng thời bảo vệ người lên tiếng. Cùng với đó là xây dựng văn hóa ứng xử tôn trọng trong công sở, sân khấu, trường quay, sân tập hay các điểm du lịch.

Khi người lao động cảm thấy an toàn và được tôn trọng, họ mới có thể yên tâm sáng tạo và cống hiến lâu dài.

- Đối với nữ nghệ nhân và người thực hành di sản, bà kỳ vọng những chính sách nào sẽ được quan tâm trong lần sửa đổi này?

Tôi luôn nghĩ rằng muốn giữ được di sản thì trước hết phải quan tâm đến những con người đang gìn giữ di sản. Nhiều nữ nghệ nhân hiện nay đang lưu giữ những làn điệu dân ca, nghề dệt, nghề gốm, nghề thêu hay những tri thức truyền thống quý giá. Họ chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa các thế hệ trong cộng đồng.

Tuy nhiên, không ít nghệ nhân tuổi đã cao, thu nhập còn hạn chế, gặp khó khăn trong việc truyền nghề. Vì vậy, bên cạnh việc tôn vinh danh hiệu, cần có những chính sách hỗ trợ thiết thực hơn như hỗ trợ kinh phí truyền dạy, tạo điều kiện để nghệ nhân tham gia các hoạt động giáo dục, văn hóa cộng đồng.

Một vấn đề khác là bảo vệ quyền lợi của nghệ nhân khi giá trị di sản được khai thác trong du lịch và thương mại. Những tri thức truyền thống, sản phẩm thủ công hay kỹ thuật nghề nghiệp do cộng đồng sáng tạo cần được nhìn nhận đúng giá trị và có cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp.

Đồng thời, cần khuyến khích phụ nữ phát triển sinh kế từ chính di sản thông qua các mô hình du lịch cộng đồng, làng nghề, sản phẩm thủ công truyền thống. Khi di sản mang lại cuộc sống ổn định, người dân sẽ có thêm động lực để gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau.

Tôi mong lần sửa đổi này Luật sẽ quan tâm nhiều hơn đến những con người đang ngày ngày tạo nên và gìn giữ văn hóa. Khi người nghệ nhân sống được bằng nghề, người làm văn hóa được làm việc trong môi trường an toàn và phụ nữ có thêm cơ hội phát triển, đó cũng chính là cách để văn hóa Việt Nam được bảo tồn và phát triển bền vững.

- Xin cảm ơn bà đã chia sẻ!

An Khê














Home Icon VỀ TRANG CHỦ