Cạn chén với sông Thương

Bản hùng ca thành cổ bên dòng sông Thương
Nhạc sĩ Nguyễn Thái Long (ở Dĩnh Kế, phường Bắc Giang) là người dẫn đoàn chợt dừng chân bên dấu vết sông Thương vẫn còn lại trong thành cổ Xương Giang. Câu chuyện như trở lại không khí của gần 600 năm trước, khi Vua Lê Lợi đánh tan quân Minh chiếm thành sau bao ngày tháng gian khó. Những chứng tích tại cổ thành phủ rêu phong bên những vạt cỏ xanh non. Ai nấy bồi hồi, mỗi bước chân nghe như đang rung lên trong tiếng hò reo và khói lửa ngút trời vào năm 1427. Trận đánh thành Xương Giang của đoàn quân Lê Lợi, coi như chiến thắng có tính chất quyết định, chấm dứt cuộc xâm lăng kéo dài 20 năm của giặc Minh ở nước ta. Mỗi nẻo đường thành cổ sống dậy lịch sử sôi động dữ dội ngày nào. Chúng tôi hinh dung: “Viên gạch cổ mọc rêu thành đá/ Hốc mắt giếng khô soi bóng ngàn năm/ Chân dẫm mũi đao ngập máu thời gian/ Âm vọng xưa tiếng thét gầm vang/ Xương Giang!”. Vó ngựa phi cùng tiếng thét tấn công vũ bão hiện lên qua lời hịch vang non sông của Nguyễn Trãi: “Đánh một trận, sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận, tan tác chim muông…Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước…”.
Trở lại với sông Thương, mọi người vẫn còn hồi hộp trong ký ức hoa lửa nơi thành cổ. Một bàn rượu được bày ra trên thuyền trên dòng sông vừa dịu dàng vừa đầy bi tráng. Phía trước là bến Chia Ly, nơi một thời ghi dấu chân Nguyễn Trãi tiễn cha (Nguyễn Phi Khanh) về phương Bắc. Sau này, khi lên ngôi vua Lê Thánh Tông (1442-1497) đã quay về bến sông với cảm xúc bâng khuâng khi hướng về thành cổ: “Đứng trên bờ dốc ngắm sông dài/ Lặn với sao trời ráng đỏ soi/ Sông xa bát ngát buồm trăng xế/ Tiếng giặt đâu đây não ruột ai…” (Xương Giang cảm hoài). Ký ức dội về bến sông với những câu thơ của Lý Tử Tấn ghi lại: “Kìa trận Hợp Phi thuở trước/ Sao bằng đây Xương Giang vẻ vang”. Dòng sông không còn chảy đôi dòng như xưa. Bên bến chia ly từng ngụm rượu trên môi chúng tôi vẫn thấy bịn rịn xa xôi. Đúng như nhạc sĩ Nguyễn Thái Long bảy tỏ với đôi mắt sáng vì men say. Ông nói về nỗi lòng khi nhớ lại những lời ca ngợi dòng sông trong bài Phú Xương Giang: “Lạch thiên nhiên của trời Nam sẵn có/ Ấy Xương Giang một sông hình đẹp/ Mà dấu thơm muôn thuở còn truyền” (Lý Tử Tấn).

Vẫn còn đó cây cầu thương nhớ
Dòng sông Thương trôi dịu dàng như suối tóc thơm mùa nếp nương dưới chân cầu thơ mộng. Trước đây, cầu sắt Sông Thương bắc qua sông như nhịp sống cuồn cuộn lên phương Bắc. Cây cầu được dựng hiện đại từ năm 1955, ngỡ như già nua hơn 70 năm tuổi nhưng vẫn ghi dấu bao câu chuyện bên dòng sông Thương. Nhạc sĩ Nguyễn Thái Long kể cầu chỉ dài 171 mét, từng phải hứng hàng ngàn tấn thuốc nổ vào những năm (1966-1967) trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Cố thi sĩ Lưu Quang Vũ một thuở là chứng nhân của những trận đánh bên cầu đã viết: “Sông Thương ơi! Đang ngày đánh Mỹ/ Nên đôi bờ nòng pháo hướng trời mây/ Những cô lái đò súng khoác trên vai/ Đời đẹp vô cùng dòng lệ hóa dòng vui” (Qua sông Thương). Bởi lẽ đó, cây cầu vẫn kiên cường đứng vững sau bao ngày đêm bom rơi đạn nổ. Những đoàn xe ngày đêm vượt sông băng qua khói lửa. Dòng sông thành mồ chôn xác giặc cùng những máy bay bùng cháy. Hồn thơ thi sĩ vẫn còn sâu nặng trong tâm: “Nỗi đau cũ thật không cùng/ Sông cũng thành nước mắt/ Hôm nay anh lại qua sông/ Đò anh đi giữa những đóa sen hồng” (Lưu Quang Vũ).
Giờ đây, các bạn trẻ luôn gọi tên cầu Sông Thương là “Hạnh phúc” cho dù còn lưu dấu vết đạn bom. Nơi đây trở thành điểm hò hẹn tình yêu bên sông Thương. Giống như muôn thuở, ông cha luôn bịn rịn bên nhau cùng những câu ca quan họ dập dìu: “Sông Thương bên lở bên bồi/ Thuyền hoa neo đậu hỏi trôi bến nào/ Miệng em chúm chím nụ đào/ Làm anh chống ngược cây sào đứng tim”. Dọc triền sông, những vườn hoa của làng Dĩnh Kế, Dĩnh Trì, Tân Tiến, Đa Mai vẫn rực rỡ đôi bờ. Rừng đào phai cổ xưa không còn nữa nhưng thay vì là những cánh đồng hoa được mở rộng bên sông thơm thảo mênh mông. Hơn nữa, những câu chuyện về cây cầu, về nơi hội tụ sông Thương tại vòng cung Lục Đầu Giang luôn trở thành vườn hoa cổ tích ngàn năm. Cho dù thành phố đã có những con cầu lớn thay thế nhưng chiếc cầu sắt Sông Thương luôn lưu dấu bao chuyện đời khó quên. Lúc này, đoàn người đang náo nức đi trên cầu cũ sang thành phố. Trong tay mỗi người là những bó hoa tươi thắm đón xuân. Dòng sông Thương êm đềm trôi qua chiếc cầu “Hạnh phúc”, đưa thuyền chúng tôi xuôi dòng hướng về ngôi đền cổ Từ Mận

Bên những làn điệu xuân quan họ
Chúng tôi nâng chén rượu ngô được cất từ Sơn Động mời nhau uống đón xuân về. Nồng độ thơm và đậm đà càng làm chúng tôi say sưa nghe những câu quan họ vẳng lên từ phía đền Từ Mận. Nơi đây, họ đang chuẩn bị cho lễ hội tưởng nhớ Ngọc Khanh công chúa con gái thứ tám của Lê triều Thánh Tông Hoàng đế (tháng Hai hàng năm). Công chúa là người có công trong cuộc chiến đánh giặc Liễu Thăng tới xâm lược nước ta. Sau cuộc chiến đấu dũng mãnh và khốc liệt, công chúa về tới làng Xuân Hương bên sông Thương thì mất. Khu đất dựng đền rộng lớn với rừng cây xanh mát bốn mùa. Đất phù sa sông Thương bồi đắp nên mảnh đất quan họ xứ kinh bắc này quanh năm rộn ràng đông vui. Chúng tôi sực nhớ tới bài thơ của Hữu Thỉnh viết về chuyến đi dọc sông Thương, suốt từ thượng nguồn về tới đây. Những câu quan họ đã cầm lòng nhà thơ trong thu cảm: “Đi suốt cả ngày thu/ Vẫn chưa về tới ngõ/ Dùng dằng hoa quan họ/ Nở tím bên sông Thương” (Chiều sông Thương). Và, giờ đây những canh quan họ đang rộn ràng kết chạ, giao duyên rền nảy, ngọt ngào bên sông. Chúng tôi ngóng lên bờ cùng chén rượu sóng sánh mạn thuyền rớt cả xuống dòng sông. Tiếng ai đó vang lên, thôi nào cạn chén với sông Thương. Mỗi lúc quan họ càng đong đưa hơn: “Ai ơi! Yêu nhau đứng ở đằng xa/ Còn mắt liếc lại bằng ba đứng gần/ Em còn son anh vẫn còn son/ Ước gì ta được làm con một nhà…”.

Chúng tôi đồ rằng, chính những giai nhân tài tử đã tìm đến miền sông Đào hoa này để dùng dằng quan họ. Chả thế nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã từng thao thức: “Sông Thương nước chảy đôi ba dòng/ Anh về Hà Nội một lòng, lòng yêu em” (Trường ca Con đường cái quan). Mờ xa bến chia ly là hồn cốt của vùng đất giao hòa miền biên viễn. Đây là nơi đừng chân của “Con thuyền không bến” một thuở mà nhạc sĩ Đặng Thế Phong tìm về. Lời hát buồn sầu vẫn còn văng vẳng đâu đây: “Lướt theo chiều gió, một con thuyền/ Theo trăng trong, trôi trên sông Thương…/Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng”. Câu chuyện buồn của một tài hoa bạc mệnh đã gửi gắm tâm sự vào sông Thương tạo hiệu ứng thi cảm của bao tao nhân mặc khách sau này. Cơn say với sông Thương của chúng tôi mỗi lúc một đê mê cùng những giai điệu ru mộng mị. Bởi vậy hồn thơ Lưu Quang Vũ vẫn ngân vọng: “Người xưa bảo đây đôi dòng lệ nhỏ/ Những suối buồn gửi tới mênh mang/ Đò về Nhã Nam/ Đò qua Phủ Lạng…(Qua Sông Thương).
Vậy mới nói, dòng sông Thương đúng là nơi hẹn, nơi chờ của nhiều lãng tử. Bởi lẽ xưa đã có câu: “Sông Thương nước chảy đôi dòng/ Trai chưa vợ, gái chưa chồng lên đây”. Giờ con sông thuộc về Bắc Ninh vì thế nhiều làng quan họ quanh sông Cầu đều lên hát trong ngày lễ hội. Thật mê ly với giọng ca của một cô gái đứng bên thuyền rồng cất lên: “Trầu này trầu tính trầu tình/ Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta/ Gặp đây ăn một miếng trầu…”. Bàn rượu nghiêng ngả theo dòng sông cuộn quanh bến nước. Khu đền Ngọc Khanh công chúa như có quầng sáng bừng lên với tiếng nhạc dặt dìu. Những anh Hai, chị Hai đang quấn quýt, đong đưa trong hàng cây cổ thụ. Thật đúng là “Người say tới chén cũng say/ Ôm vò rượu hẹn mai này sông Thương”.

Vương Tâm
1 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
10 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước