Cách sống của người Nam Bộ

Tác giả: Đinh Thị Thanh Thủy
Khí chất Nam Bộ qua truyện Sơn Nam
Từ lòng mến mộ nhà văn Sơn Nam, tác giả Đinh Thanh Thủy đã nghiên cứu và chỉ ra khí chất Nam Bộ phản ánh qua những nét văn hóa và cá tính của con người Nam Bộ được Sơn Nam lồng ghép dày đặc trong các sáng tác.
Cách sống của người Nam Bộ
Nhân nghĩa, yêu thương đồng bào là truyền thống quý báu được ươm mầm và đâm chồi nảy lộc trong phẩm chất nhân dân Nam Bộ.
Nhân ái, nghĩa khí là tính cách nổi bật khi nói đến dân Nam Bộ. Đó là những con người phóng khoáng, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, yêu thương giống nòi, Tổ quốc. Đó là những người biết quý trọng nơi đã tạo cuộc sống mới cho họ và biết giữ gìn nền văn hiến của tổ tiên.
Tạo lập sự sống giữa thiên nhiên còn quá xa lạ thời kỳ đầu khai phá tập cho người Nam Bộ sự hào phóng, khoáng đạt. Để có cái ăn cái mặc, người ta đã gạt bỏ những hẹp hòi riêng tư, đoàn kết và san sẻ cho nhau mọi thứ từ vật chất đến tinh thần, cùng nhau tồn tại.

Nhân ái, hào hiệp và trọng nghĩa khinh tài là những phẩm chất nổi bật của người Nam Bộ. Ảnh: Nguyễn Thắng/ Báo ảnh Việt Nam.
Hơn nữa, sự đồng cảm giai cấp, cảnh ngộ càng làm họ hào hiệp với nhau để vượt qua cảm giác cô đơn, nhớ quê cha đất tổ. Khi có khách đến nhà, người dân vô cùng hồ hởi tiếp đãi trọng hậu, không kể thân sơ quen lạ.
Lòng hiếu khách, hậu đãi bạn bè của dân rạch Xẻo Quao làng Đông Hưng đối với Tư Liệt - người coi giữ vuông cá cho ông Tây Lơ Pheo khiến anh ta không thể ác ý cư xử thô bạo với họ: “Lại đây nhậu chơi nè. Chẳng lẽ ba người ráp đánh một người. Anh hùng một thứ với nhau mà”(1).
Ông hương thân Chỉ (Tục lệ ăn trộm) đối xử với ông hương hào Ngọc và Thiệp - anh chàng nghèo túng nhất làng Đông Yên vẫn như bậc thượng khách, không có sự phân biệt sang hèn: “Huệ ơi. Rót hai tách nước. Khách quý tới nhà mình”; ngược lại, ông hương hào Ngọc cũng rất tự nhiên bảo Huệ xuống xuồng xách hết cua vào nhà để ăn trong Tết.
Cái chính ở họ là sự hào phóng như thiên nhiên rộng mở, không hề tính toán vụ lợi. Có cái gì ngon mang ra đãi bạn tâm đầu, cuộc đến thăm là cuộc trò chuyện vì “khoái” tính nết của nhau chứ không vì nhờ vả hay xin xỏ.
Điệu (Vọc nước giỡn trăng) đến xứ Cà Mau làm ăn, không nghề ngỗng, không người thân thích; thất bại mấy mùa lưới vẫn được cha con ông Năm Lượng cưu mang, cổ vũ và giúp đỡ, “Ông Năm Lượng nghĩ vậy mà thương, gọi anh về ở chung nhà, cho ngủ trên cái vạt tre, phía trước”(2).
Người đến trước có kinh nghiệm sống truyền lại cho người đến sau vốn sống và lòng nhân ái bao la. Họ giúp người là vì thương người trong hoàn cảnh bế tắc, vậy thôi, không nghĩ đến việc đền ơn đáp nghĩa.
Khí khái đó còn bắt gặp ở chân dung của má Sáu (Một bức chân dung). Má rộng rãi và thương đám con vào rừng kháng chiến nên có cái gì má cũng gửi cho hết, đến nỗi nợ nần tứ giăng. Tuy vậy bất cứ đứa nào trong rừng ra má Sáu đều chăm sóc kỹ lưỡng và gởi đồ theo vào. Má Sáu bảo: “Con đừng buồn, đừng ngại (…) Họ nói má trốn nợ chạy theo thực dân; lập trường không vững đó. Ối! Hơi đâu mà giận”(3).
Ở những con người bình dị như thế, không chỉ có sự khoáng đạt, rộng mở, mà còn có tính bao dung, không chấp nê người không hiểu gốc ngọn của sự việc.
Đến đất mới với đôi bàn tay trắng và tình nhân ái, con người nơi đây đã sống thật lòng, khoản đãi hậu hĩ bạn bè, đồng hương dù cho họ nghèo khó hay khá giả. Họ thích lối sống sòng phẳng, nghĩa tình, không có sự tráo trở, đổi lòng thay dạ.
Người dân đặc biệt trọng nghĩa khinh tài. Trong hệ thống các nước theo Khổng học, nếu như người Trung Quốc nhấn mạnh chữ Hiếu, người Nhật Bản chữ Trung, người Triều Tiên chữ Thuần, thì người Việt Nam nhấn mạnh chữ Nghĩa. Sống và hành xử theo “Nghĩa” là phẩm cách của người Việt.
Đến người Việt phương Nam, bên cạnh trọng nghĩa là một thái độ khinh tài, xem tiền tài là vật ngoài thân. Người quân tử, anh hào phải là người sống có nghĩa khí, thấy chuyện bất bình rút đao tương trợ mà không yêu cầu người ta phải đáp lại. Phong thái hiệp nghĩa, anh hùng mã thượng là lý tưởng tu thân của đấng nam nhi.
Lão Khăn Đen là một trong những mẫu người chọn nghĩa cử hành đạo, giữ tín (Xóm Bàu Láng). Lỡ tay giết một người hiền lành lương thiện, Lão Khăn Đen thề với người chết, mà nhất là thề với chính mình phải bù đắp, chăm lo cho con trai của người ấy.
Lời hứa và uy tín đối với lão còn quan trọng hơn cả sinh mạng của lão. Cho nên có phải lang thang theo thằng Mến khắp nơi và suốt đời với mục đích bảo bọc, nuôi dưỡng, người đàn ông lừng danh tướng cướp ấy cũng cam lòng.
[...]
Trong Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Con sấu cuối cùng, Sông Gành Hào, những người hùng diệt sấu cứu dân như Năm Hên, Tư Đạt… đều xuất thân từ người dân Nam Bộ bình thường, cơ hàn áo vải. Nghèo, nhân cách, hào hiệp và nghĩa khí, người dân Nam Bộ tượng trưng cho mẫu người có nghĩa cử cao đẹp, ngời sáng dù trong lớp vải đen, vải nâu sờn rách.
Ông Năm Hên nhà chỉ có hai anh em ruột mà sấu miệt Gò Quao lại còn tha mất người anh nên thề quyết trả thù (Bắt sấu rừng U Minh Hạ), cha con ông Tư Đức (Sông Gành Hào) cũng vì việc nghĩa bắt sấu gây hại sinh linh. Làm việc thiện không cầu đổi danh, làm giàu, bởi ở họ, cái nghèo và những tháng ngày rong ruổi mưu sinh suốt đời đeo bám.
Nhân nghĩa, yêu thương đồng bào là truyền thống quý báu được ươm mầm và đâm chồi nảy lộc trong phẩm chất nhân dân Nam Bộ. Tinh thần “Người trong một nước phải thương nhau cùng” trở nên vô cùng sâu sắc ở mảnh đất đang còn ẩn tiềm đầy khó khăn cũng như thuận lợi phương Nam. Nơi này, con người đã chung lưng đấu cật, chung tay xây dựng đời sống và sớt chia bớt nhọc nhằn.
Trong phạm vi một xóm làng, hay khu vực dân cư, mỗi khi hữu sự thì những bàn tay đồng hương, đồng bào luôn chìa ra giúp đỡ. Truyền thống nhân ái của người Việt càng có dịp bùng lên tại vùng mà con người đang dò dẫm định chân giá trị của cuộc di dân. Mối quan hệ giữa con người với con người đong đầy tình cảm thân ái, nó kết nối tình xóm giềng, tình bè bạn, cha con chồng vợ và thắt chặt những người dưng thuộc nhiều vùng trong cái nghĩa đồng bào.
-----------------------------------------
1. Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau, Tập 2, Sđd, tr. 166.
2. Sơn Nam, Hình bóng cũ - Biển cỏ miền Tây (Truyện vừa), Sđd, tr. 271.
3. Sơn Nam, Vọc nước giỡn trăng (Tập truyện ngắn), Sđd, tr. 54.
Đinh Thị Thanh Thủy
NXB Tổng Hợp TP.HCM
3 giờ trước
4 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước