Bước đột phá chiến lược cho tương lai công nghệ Việt Nam
Để tạo sự đột phá về chính sách phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, Luật quy định ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và hạ tầng công nghệ - đây là thành phần then chốt trong kỷ nguyên số và chuyển đổi số.
Một trong cơ chế, chính sách mang tính “lực đẩy” được Luật quy định rõ: áp dụng các mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan đối với hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ. Theo đó, được ưu tiên xem xét tài trợ, hỗ trợ kinh phí từ chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo về công nghệ cao và từ các quỹ theo pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.
Đáng chú ý, nếu đáp ứng tiêu chí về trung tâm nghiên cứu và phát triển theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và các tiêu chí như: công nghệ, sản phẩm được nghiên cứu và phát triển tại trung tâm thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, các tiêu chí về nhân lực trình độ cao; tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển… thì Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ cao là đối tượng được hưởng ưu đãi, hỗ trợ cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và pháp luật có liên quan…
Ngoài ra, Luật quy định, ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để chi cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển, nội địa hóa, làm chủ và ứng dụng công nghệ; hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực công nghệ nói chung, công nghệ cao, công nghệ chiến lược nói riêng, Luật cũng quy định rõ thu hút và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao; theo đó, Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực công nghệ cao theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và pháp luật khác có liên quan. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động đào tạo, thu hút và phát triển nhân lực công nghệ cao phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.
Nhằm sớm thương mại hóa sản phẩm công nghệ, Luật quy định, Nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng để hỗ trợ thương mại hóa công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược. Bên cạnh đó, luật cũng quy định, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho ứng dụng công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược mới theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo…
Luật Công nghệ cao (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Với chính sách ưu tiên dành cho doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao, hoạt động nghiên cứu, nguồn nhân lực chất lượng cao, Luật đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong chính sách phát triển công nghệ của nước ta trong thời gian tới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong thời đại kỷ nguyên số.
Song Hà