🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Bục giảng đặc biệt của người thương binh xứ Nghệ

1 giờ trước
Để lại đôi mắt nơi chiến trường, thương binh Nguyễn Đăng Khoa (ở Nghệ An) biến bóng tối thành ánh sáng, mở lớp dạy miễn phí cho học sinh.

Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Khoa bên bức ảnh lưu niệm chụp cùng học trò.

Ánh sáng từ bóng tối

Trong căn nhà nhỏ ở xã Đại Huệ (Nghệ An), nhịp sống của cựu chiến binh Nguyễn Đăng Khoa (SN 1942, thương binh hạng 1/4) dường như tĩnh lặng hơn trước. Nơi góc nhà, chiếc bảng đen cũ kỹ lặng lẽ tựa vách tường, những bộ bàn ghế sờn màu thời gian được ông xếp ngay ngắn như níu giữ không khí của lớp học năm xưa.

Mọi thứ vẫn vẹn nguyên, chỉ tiếng ê a đọc bài và âm thanh sôi nổi của thầy trò nay đã lùi vào hoài niệm. Trải qua những năm tháng quân ngũ gian khổ, cộng thêm di chứng vết thương, tuổi cao sức yếu khiến các con nhiều lần khuyên ông nghỉ ngơi, gác lại phấn bảng.

Ông Khoa thấu hiểu nỗi lo âu ấy và sự hiếu thảo của các con. Nhưng mỗi khi hướng về góc lớp học cũ, ký ức lại ùa về. "Tôi nhớ lớp học lắm. Chỉ cần còn minh mẫn, còn sức khỏe, tôi vẫn muốn truyền đạt những điều mình biết cho các cháu", người thầy giáo chậm rãi bộc bạch.

Thương binh Nguyễn Đăng Khoa (bên phải) tìm thấy ánh sáng từ bóng tối, dẫn lối tri thức cho nhiều học trò.

Gần 60 năm trôi qua kể từ ngày đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng. Nhưng có một điều kỳ diệu là bất cứ ai khi trò chuyện cùng ông Khoa, đều cảm nhận được sự lạc quan, ấm áp. Đó là ánh sáng của trí tuệ, của nghị lực và niềm tin yêu cuộc đời.

Lật dở lại những ký ức hào hùng của cuộc đời, ông Khoa kể, năm 1964, ông đang là học sinh năm cuối Trường cấp III Nam Đàn. Vốn tư chất thông minh, đặc biệt xuất sắc ở môn Toán học, chàng thanh niên ôm ấp hoài bão trở thành giáo viên.

Thế nhưng, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc thôi thúc ông gác lại ước mơ, hăng hái lên đường nhập ngũ. "Tôi nghĩ lúc ấy đất nước cần thì thanh niên phải có trách nhiệm. Ước mơ riêng có thể chờ, còn Tổ quốc thì không thể", ông Khoa nhớ lại.

Sau thời gian huấn luyện, ông được bổ sung vào Đoàn 559, làm nhiệm vụ mở đường và vận chuyển hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Tháng 9/1967, trong lúc đơn vị đang khẩn trương làm cầu trên tuyến vận tải ở Tây Nguyên, máy bay địch bất ngờ lao tới, trút bom xuống trận địa. "Tôi chỉ kịp nghe một tiếng nổ rất lớn rồi lịm đi không còn biết gì nữa", người thương binh nhớ lại ranh giới sinh tử.

Khi tỉnh dậy trong quân y viện, ông vẫn kiên cường nuôi hy vọng sớm bình phục để tiếp tục chiến đấu. Nhưng đến ngày tháo băng, trước mắt người lính trẻ chỉ hiện lên một quầng sáng vàng nhạt rồi vụt tắt. Đó cũng là lần cuối cùng ông Khoa còn nhìn thấy ánh sáng. Trận bom năm ấy vĩnh viễn cướp đi đôi mắt của chàng thanh niên tuổi 25.

Ngày trở về quê hương, người lính Nguyễn Đăng Khoa mang trên mình tỷ lệ thương tật 1/4 cùng nhiều mặc cảm. Thế nhưng, trong giai đoạn khó khăn ấy, ông gặp bà Trần Thị Sâm, khi đó là Phó Bí thư Đoàn xã Nam Lĩnh. Từ sự đồng cảm và sẻ chia, họ quyết định nắm tay nhau, nên duyên vợ chồng.

"Vợ là đôi mắt của tôi. Nếu không có bà ấy, chắc tôi khó có thể đi được chặng đường dài như hôm nay", ông Khoa xúc động.

Với bản lĩnh người lính, ông Khoa không chấp nhận cuộc sống dựa dẫm. Năm 1973, ông xin chính quyền địa phương một chiếc radio để nghe thời sự, nắm bắt tình hình đất nước. Ban ngày, ông nghe đài, ghi nhớ từng bản tin. Ban đêm, ông kiên trì sờ nắn từng dấu chấm để tự học chữ nổi Braille.

Không còn đôi mắt, ông Khoa tìm thấy ánh sáng bằng chữ nổi Braille.

"Tôi nghĩ mình mất đi đôi mắt thì càng phải học nhiều hơn. Nếu không tiếp nhận tri thức thì sẽ bị bỏ lại phía sau", ông Khoa tâm niệm. Từ một thương binh khiếm thị, ông vươn lên trở thành tuyên truyền viên của địa phương, trực tiếp biên tập các tin, bài phát trên hệ thống loa truyền thanh xã.

Lớp học không phấn trắng của người thương binh

Giấc mơ trở thành thầy giáo của ông Khoa tưởng chừng vĩnh viễn khép lại dưới lớp bụi thời gian và sự nghiệt ngã của chiến tranh. Bỗng một lần, ông tình cờ nghe hai em học sinh đang loay hoay trước một bài toán hình học. Phản xạ của người từng giỏi Toán trỗi dậy.

"Tôi nhặt một hòn than củi, cúi xuống vẽ hình ngay trên nền sân gạch rồi hướng dẫn các cháu cách tư duy, giải quyết vấn đề", ông Khoa kể. Lời giải logic, chính xác từ người thương binh mù khiến học trò thán phục.

Tiếng lành đồn xa, từ buổi chiều hôm ấy, học sinh trong làng bắt đầu tìm đến nhờ ông giảng bài. Ban đầu chỉ vài em, sau sĩ số ngày một đông hơn. Nhận ra niềm hạnh phúc lớn nhất của đời mình là được truyền đạt kiến thức, ông quyết định mở lớp học miễn phí ngay tại nhà.

Lớp học đầu tiên khai giảng vào mùa Hè năm 2003 với 16 học sinh. Từ đó thành thông lệ, lớp học đặc biệt ấy luôn được mở vào đầu hè và bế giảng khi các em chuẩn bị bước vào năm học mới.

Chiều nào căn nhà nhỏ cũng rộn rã tiếng thầy trò. Không thể nhìn thấy bảng đen, ông chọn những học sinh có học lực khá làm trợ giảng, thay thầy đọc đề bài, vẽ hình lên bảng và ghi chép công thức. Phần mình, bằng khả năng tư duy không gian nhạy bén, ông lần lượt dẫn dắt, gợi mở để học trò tự tìm ra đáp án.

"Tôi không nhìn thấy hình vẽ trên bảng, nhưng trong đầu lúc nào cũng hiện lên một bức tranh rõ nét, hình dung được tường tận từng góc, từng cạnh", ông chia sẻ về cách chinh phục môn hình học không gian.

Ngoài bục giảng, ông Khoa con đam mê âm nhạc và tự học nhiều loại nhạc cụ như violin, mandolin, harmonica...

Nhiều năm qua, người thương binh nghị lực ấy mở 11 lớp học miễn phí, giúp hàng trăm học sinh THCS củng cố nền tảng kiến thức. Hơn cả những định lý, ông còn lồng ghép những câu chuyện lịch sử quê hương, truyền ngọn lửa tình yêu Tổ quốc và ý chí vượt khó.

"Mỗi lần thấy học trò tiến bộ, thi đỗ đạt cao, tôi vui mừng như chính con cháu ruột thịt của mình thành công vậy", ông mỉm cười.

Khoảnh khắc xúc động nhất trong suốt chặng đời của thương binh Nguyễn Đăng Khoa là vào tháng 9/2007. Ghi nhận những cống hiến vì sự nghiệp giáo dục, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp cùng Bộ GD&ĐT trao tặng ông Thẻ Nhà giáo.

"Ngày cầm trên tay danh hiệu ấy, nước mắt tôi cứ thế trào ra. Tôi từng cay đắng nghĩ chiến tranh cướp đi giấc mơ làm thầy. Nào ngờ đến năm 65 tuổi, tôi lại được xã hội, được ngành Giáo dục gọi bằng hai tiếng Thầy giáo", ông Khoa nghẹn ngào.

Không chỉ tỏa sáng trên bục giảng, thầy giáo Khoa còn là hạt nhân văn nghệ quen thuộc của vùng quê Nam Đàn. Ông tự mày mò học chơi đàn mandolin, kèn harmonica. Tại các buổi biểu diễn của xã, ông thường kết hợp thổi kèn, gảy đàn và dùng chân gõ nhịp nhàng.

Trong căn nhà nhỏ, những huân, huy chương, bằng khen được ông Khoa cất giữ cẩn thận ở vị trí trang trọng nhất. Nhưng khi được hỏi về điều tự hào nhất, ông tuyệt nhiên không nhắc đến phần thưởng cá nhân nào. Ông chỉ mỉm cười, đưa tay sờ lên chiếc bảng đen và tự hào kể tên những lứa học trò khôn lớn từ lớp học nghèo của mình.

Gần 60 năm qua, người thương binh Nguyễn Đăng Khoa biến mất mát thành sức mạnh kiên cường, hiện thực hóa giấc mơ đứng trên bục giảng. Ánh sáng ông miệt mài trao truyền cho thế hệ hôm nay không đến từ đôi mắt, mà được thắp lên từ trí tuệ, lòng nhân ái và niềm tin bền bỉ vào cuộc đời.

Phạm Tâm

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ