🔍
Chuyên mục: Thời sự

Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị Quán triệt chuyên sâu Kết luận 09-KL/TW của Bộ Chính trị

2 giờ trước
Sáng 31/3, tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị Quán triệt chuyên sâu Kết luận 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Hội nghị kết nối trực tiếp và trực tuyến từ Điểm cầu Bộ Tư pháp đến đến 34 điểm cầu Sở Tư pháp các tỉnh, thành và các đơn vị thuộc Bộ có trụ sở ngoài địa bàn thành phố Hà Nội.

Tái cấu trúc hệ thống pháp luật

Quán triệt Kết luận số 09-KL/TW, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, ngày 27/02/2026, sau khi nghe Đảng ủy Bộ Tư pháp báo cáo về Đề án "Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" và ý kiến của các cơ quan có liên quan, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua Đề án và ban hành Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Kết luận 09-KL/TW đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, tinh gọn, đồng bộ và dễ tiếp cận. Theo đó, việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật cần bảo đảm các định hướng sau:

Một là, cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật,bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của các cơ quan Trung ương; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương) và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng).

Mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ, theo hướng án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chưa được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoặc chưa được quy định rõ ràng trong một số trường hợp cụ thể.

Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Bộ Tư pháp. Ảnh: Dương Cầm

Đặc biệt, đơn giản hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm pháp luật với lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật...

Hai là, xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức (quy phạm pháp luật công) được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm thực hiện tốt chức năng trao thẩm quyền đủ mạnh cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đồng thời kiểm soát hiệu quả, phòng ngừa nguy cơ lạm dụng, lợi dụng quyền lực.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là các cá nhân, tổ chức không mang quyền lực nhà nước (quy phạm pháp luật tư) được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng phục vụ phát triển đất nước.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc "thượng tôn Hiến pháp và pháp luật", Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật, bao gồm: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính. Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài các quy định chi tiết, cụ thể, còn có các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật.

Đẩy mạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật phục vụ kiến tạo phát triển, phát huy vai trò dẫn dắt, "đi trước mở đường" của pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh...

Ba là, tiến hành tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; tuyệt đối không để cài cắm lợi ích, tác động tiêu cực đến cấu trúc hệ thống pháp luật; đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật, được trình và đăng tải đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung.

Hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và cơ chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng xác định rõ chủ thể có thẩm quyền, nguyên tắc, quy trình giải thích và hướng dẫn áp dụng. Nghiên cứu cơ chế đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội trong hoạt động lập pháp theo hướng tăng hợp lý số kỳ họp của Quốc hội, nhất là thông qua hình thức trực tuyến, gắn với phát huy vai trò của đại biểu Quốc hội chuyên trách, các đoàn đại biểu Quốc hội...

Theo Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam. Nói một cách dễ hiểu là cấu trúc của một hệ thống pháp luật có thể ví như bản thiết kế của một "ngôi nhà pháp luật" với nền móng là Hiến pháp; các trụ cột là hệ thống các bộ luật, luật chung và luật chuyên ngành. Các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của Trung ương và địa phương đóng vai trò là các tầng, phòng; trong khi án lệ, tập quán và lẽ công bằng là nguồn luật hỗ trợ.

Xây dựng "bản thiết kế 3D tổng thể" về pháp luật

Song song với Kết luận số 09, Bộ Chính trị cũng yêu cầu xây dựng Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới", mà chiến lược này sẽ thay thế Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 27-KL/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Bộ Tư pháp đang phối hợp xây dựng Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”. Đây được coi là "bản thiết kế 3D tổng thể", không chỉ kế thừa Kết luận số 09 mà còn gắn liền với các dấu mốc lịch sử quan trọng như 100 năm lãnh đạo của Đảng và định hướng Đại hội XIV.

Tại Hội nghị, Giới thiệu nội dung chính của Đề cương Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới", Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) Nguyễn Văn Cương cho biết, việc xây dựng Đề án là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng đặt ra mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, hướng tới tăng trưởng "hai con số" và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Đồng thời, tạo nền tảng pháp lý vững chắc, đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển đất nước.

Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương trình bày Đề cương Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Dương Cầm

Nội dung của đề án, về cơ bản, dự kiến gồm ba phần lớn.Phần thứ nhất là những vấn đề chung, nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho toàn bộ đề án. Trên cơ sở đó, làm rõ các khái niệm gốc, trong đó có cả việc nhận thức lại vai trò, bản chất của hệ thống pháp luật trong điều kiện mới.

Phần thứ hai là đánh giá thực trạng. Việc đánh giá không thể chỉ dừng lại ở văn bản, mà phải đặt hệ thống pháp luật trong trạng thái vận hành thực tế, qua đó phát hiện các "điểm nghẽn", "bệnh lý" trong quản trị pháp luật để có giải pháp phù hợp cho thời gian tới. Khi đánh giá thực trạng, ngoài việc ghi nhận thành tựu, phải chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân.

Phần thứ ba là về bối cảnh, định hướng và giải pháp thực hiện. Ở đây phải nhận diện đầy đủ bối cảnh quốc tế, trong nước, đặc biệt là yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Theo đó, một điểm rất quan trọng là năng lực dự báo chiến lược; nếu không dự báo đúng thì rất khó tham mưu đúng.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Về mục tiêu, đề án phải hướng tới việc xây dựng một hệ thống pháp luật Việt Nam phát triển đầy đủ, hiện đại, chất lượng cao, có kỹ thuật lập pháp tiên tiến, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, phục vụ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Về lộ trình xây dựng đề án, Viện trưởng Cương cho biết, ngày 29/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành văn bản triển khai nhiệm vụ này. Sau hội nghị hôm nay, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục có các văn bản hướng dẫn, đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiến hành rà soát thực trạng pháp luật của mình, đồng thời đề xuất kiến nghị về tầm nhìn đến năm 2045.

Từ tháng 4/2026, Bộ Tư pháp dự kiến tổ chức các tọa đàm, hội thảo, làm việc với các cơ quan liên quan, các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, các viện chuyên ngành, kể cả ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương, để thu thập ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và làm rõ các vấn đề thực tiễn. Theo tiến độ dự kiến, đến tháng 9/2026, cơ bản phải hoàn thành dự thảo đề án.

"Thời gian chỉ còn khoảng 6 tháng, khối lượng công việc rất lớn. Vì thế, rất cần sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm cao của tất cả các bộ, ngành, địa phương" - Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương cho biết.

Viện trưởng khẳng định, đây là một đề án rất khó, có yêu cầu rất cao cả về chính trị, pháp lý và thực tiễn. Song, nếu làm tốt, đề án này sẽ tạo nền tảng rất quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Gắn xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật

Hội nghị lắng nghe ý kiến phát biểu, chia sẻ của đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Vụ Pháp chế Bộ Tài chính, lãnh đạo Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, Sở Tư pháp Cần Thơ về những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ thực tiễn triển khai, góp phần hoàn thiện định hướng xây dựng và thi hành pháp luật theo Kết luận số 09.

Đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Đa số các đại biểu đánh giá, Kết luận 09 có rất nhiều nội dung mới và có tính vượt trội so với hệ thống pháp luật hiện nay và kỳ vọng rằng việc thực hiện đầy đủ các nội dung của Kết luận 09 sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản cho hệ thống pháp luật Việt Nam.

Vụ Pháp chế Bộ Tài chính chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Kết luận tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh, Kết luận số 09 tuy chỉ có 4 trang nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là nội dung lớn, phạm vi rộng, yêu cầu cao, vì vậy việc triển khai cần có lộ trình. Trên cơ sở đó, trong thời gian tới, ngành tư pháp xác định tập trung vào 3 nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Quá trình này cần kế thừa thực tiễn triển khai thời gian qua, khắc phục những khó khăn, vướng mắc, đồng thời quán triệt tinh thần của Kết luận số 09, nhất là yêu cầu đơn giản hóa, bảo đảm nguyên tắc một chủ thể ban hành một hình thức, tăng cường hướng dẫn, giải thích và nâng cao tính khả thi của pháp luật.

Thứ hai, tổ chức tổng rà soát hệ thống pháp luật, với sự chủ trì của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và sự phối hợp của Chính phủ. Bộ Tư pháp, hệ thống pháp chế và Sở Tư pháp các địa phương giữ vai trò nòng cốt, song, việc rà soát phải được thực hiện theo nguyên tắc cơ quan nào quản lý lĩnh vực thì chịu trách nhiệm rà soát lĩnh vực đó, bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và sát thực tiễn.

Thứ ba, xây dựng Đề án chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đây là nhiệm vụ khó nhưng cũng hết sức cấp bách trong bối cảnh hiện nay.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú kết luận tại Hội nghị. Ảnh: Dương Cầm

Ba nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Kết quả của tổng rà soát sẽ là cơ sở quan trọng để sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, việc triển khai cần được thực hiện đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Theo Thứ trưởng, việc thực hiện Kết luận số 09 không chỉ dừng lại ở hoàn thiện hệ thống văn bản mà còn hướng tới chuẩn hóa toàn diện hệ thống pháp luật về hình thức, nội dung và cơ chế vận hành. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức thực hiện và nguồn lực bảo đảm, cả về con người và kinh phí.

Trong quá trình triển khai, Bộ Tư pháp mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành, chia sẻ và phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là hệ thống pháp chế và Sở Tư pháp. Đồng thời, Bộ sẽ chủ động tổ chức các buổi làm việc, trao đổi cả về nội dung và phương thức triển khai nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh.

Dương Cầm

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ