🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết riêng về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

11 giờ trước
Sau gần 4 thập kỷ mở cửa và đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp mạnh mẽ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu đang thay đổi sâu sắc, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết mới nhằm nâng tầm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài…

Công nghiệp chế biến, chế tạo đang là lĩnh vực thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

CÁC MỤC TIÊU CỤ THỂ

Nghị quyết nêu rõ trong suốt thời gian qua, mặc dù khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu sơn vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng thực tế cho thấy chất lượng thu hút vốn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Tỷ lệ dự án gia công, lắp ráp, thâm dụng lao động và tài nguyên còn cao; trong khi tỷ lệ nội địa hóa và khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước vẫn là một điểm nghẽn lớn. Đặc biệt, dòng vốn đầu tư gián tiếp và các hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) từ các định chế tài chính toàn cầu còn hạn chế.

Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi từ việc thu hút vốn đơn thuần sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu… để đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát đưa Việt Nam trở thành điểm đến hàng đầu, có sức cạnh tranh cao trong việc thu hút dòng vốn nước ngoài trung và dài hạn. Cụ thể:

Giai đoạn 2026- 2030: Thu hút vốn đăng ký đạt 200-300 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD (giai đoạn 2026-2030); 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển; tăng 30% số lượng tập đoàn Fortune 500 đầu tư tại Việt Nam; thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, trung tâm R&D tại Việt Nam; tỷ lệ nội địa hóa ngành công nghiệp chủ lực đạt 45-50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nâng cao tỷ lệ người Việt đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu… trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao; 10% khu công nghiệp trên cả nước là khu công nghiệp sinh thái và nâng hạng thị trường chứng khoán (theo xếp hạng MSCI).

Giai đoạn đến năm 2045: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á, là nước phát triển có thu nhập cao.

BẢY NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ Chính trị yêu cầu triển khai đồng bộ và quyết liệt các nhóm giải pháp mang tính đột phá.

Một là nhóm nhiệm vụ chung, tập trung vào hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng. Trong đó, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư sẽ chuyển từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án; sẽ áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án và và khu vực trọng điểm như Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, và các trung tâm đổi mới sáng tạo.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Hai là đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực và địa bàn. Trong đó, xác định một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài như: Công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến… Ưu tiên thu hút các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, cam kết triển khai các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, đầu tư các kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cho khu vực và quốc tế.

Ba là, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước. Khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa. Đồng thời, Xây dựng và triển khai chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng kết nối nhà cung ứng, cụm liên kết ngành và cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.

Bốn là đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm dựa trên dữ liệu, chuyên nghiệp, thực chất, dài hạn. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư chiến lược, đối tác chiến lược, tập đoàn hàng đầu, định chế tài chính, quỹ đầu tư lớn, trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng và có phương án tiếp cận chuyên biệt theo từng thị trường, từng nhóm ngành và từng địa bàn.

Năm là nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, tập trung xây dựng và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; thực hiện nguyên tắc khai một lần, dùng nhiều lần; nâng cao chất lượng phục vụ nhà đầu tư, doanh nghiệp, chất lượng phân tích, dự báo và điều hành chính sách.

Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa phương; lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo người Việt Nam, phát triển nhà cung ứng, đóng góp ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật và an ninh kinh tế làm tiêu chí chủ yếu.

Sáu là hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài. Phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế. Tăng nguồn cung hàng hóa cho thị trường vốn thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân huy động vốn và niêm yết trên thị trường, nâng cao quản trị công ty và minh bạch thông tin. Thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa…

Bảy là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan có liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp đặc thù; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp… trong quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài..

Về tổ chức thực hiện, Nghị quyết yêu cầu Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; trong đó đáng chú ý là việc tổ chức thí điểm một số cơ chế, chính sách mới, bảo đảm đánh giá độc lập, kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt thí điểm không hiệu quả, phát sinh rủi ro. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp lãnh đạo phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan.

Anh Nhi

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ