🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Bình bài thơ "Mười cô gái Anh hùng Lam Hạ" của Đặng Vương Hưng

51 phút trước
Đọc bài thơ “Mười cô gái anh hùng Lam Hạ” của Đại tá, nhà thơ Đặng Vương Hưng, viết từ 10 năm trước, tôi vô cùng xúc động... Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ác liệt. Vậy mà tưởng như họ vẫn hiện diện đâu đây, trong cảm quan của mỗi người. Bởi lẽ, họ đã thành bất tử.

MƯỜI CÔ GÁI ANH HÙNG LAM HẠ

Người thì đã tới vĩnh hằng
Mười gương mặt đẹp như trăng vẫn tròn
Không gương lược, chẳng phấn son
Mười cô gái tuổi mãi còn hai mươi.

Mười tình yêu dẫu không lời
Vẫn vang vọng đến ngàn đời không quên
Mười số phận một cái tên
Đã thành bất tử ngay trên đất này...

Ai về Lam Hạ hôm nay
Thành tâm thắp nén hương bay lên trời
Anh linh liệt nữ sáng ngời
Bắn tàu bay giặc rụng rơi bao lần.

Sống như gửi tạm cõi trần
Tử sinh ai biết trước cần phải qua
Mỗi khi có giặc đến nhà
Đạn bom chẳng tránh đàn bà, trẻ thơ

Mười Anh hùng vẫn đang chờ
Quê hương Tổ quốc tôn thờ vinh danh...

Lam Hạ, 10/2016
Đặng Vương Hưng

LỜI BÌNH THƠ CỦA TÁC GIẢ NGUYÊN BÌNH

Nhà văn Svetlana Alexievich từng viết: “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”. Bởi lẽ, chiến tranh từ xa xưa được mặc định là trọng trách của phái “mày râu”. Nhưng ở Việt Nam lại khác, với truyền thống “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, người phụ nữ đã xung phong ra trận đánh đuổi ngoại xâm, trả thù nhà, đền nợ nước... Tiếp nối truyền thống đó, khi đất nước có giặc, thời nào cũng có những tấm gương phụ nữ kiên trung, xả thân vì đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, mười cô gái anh hùng Lam Hạ và còn biết bao người phụ nữ khác… họ là những tấm gương tiêu biểu cho truyền thống anh hùng, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam.

Địa danh Lam Hạ thuộc thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là phường Phủ Lý, tỉnh Ninh Bình. Trong kháng chiến chống Mỹ, Lam Hạ là trọng điểm giao thông quan trọng từ hậu phương miền Bắc chi viện cho miền Nam, nên trở thành mục tiêu đánh phá điên cuồng của máy bay Mỹ. Nơi đây, mười cô gái cùng sinh ra, lớn lên, cùng chiến đấu và hy sinh anh dũng trên mảnh đất Lam Hạ. Họ không hy sinh cùng thời điểm như mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, mà hy sinh ở các trận địa pháo phòng không khác nhau, nhưng tính chất của sự hy sinh thì không đổi: họ đều là những anh hùng, liệt sĩ bất tử cùng thời gian. Cảm phục trước sự hy sinh cao đẹp của mười cô gái Lam Hạ, nhà thơ Đặng Vương Hưng đã viết bài thơ này. Tác giả tôn vinh các cô là “những anh hùng”. Theo đó, ông còn dùng những từ ngữ đẹp đẽ, trang trọng nhất ngợi ca họ: “Mười gương mặt đẹp như trăng vẫn tròn/ Không gương lược, chẳng phấn son/ Mười cô gái tuổi mãi còn hai mươi”. Để tôn lên vẻ đẹp của các cô, nhà thơ sử dụng biện pháp so sánh “đẹp như trăng vẫn tròn”. Đó là vẻ đẹp “Không gương lược, chẳng phấn son”, rất chân quê, mộc mạc, giản dị, thuần khiết và vô cùng trong sáng.

Mười cô gái anh hùng Lam Hạ tuổi còn rất trẻ (trên dưới 20). Họ làm nhiều công việc khác nhau: người là nông dân, công nhân, giáo viên, có người vừa rời ghế nhà trường… Ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất với bao ước mơ, hoài bão..., các cô đã tự nguyện gác lại tất cả để tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương. Bởi hơn ai hết, các cô hiểu: “Mỗi khi có giặc đến nhà/ Đạn bom chẳng tránh đàn bà, trẻ thơ”.

Nhiệm vụ chiến đấu gian khổ, khó khăn của các cô được nhà thơ gói gọn trong câu thơ: “Bắn tàu bay giặc rụng rơi bao lần”. Nhưng chỉ cần thế cũng đã nói được chiến công oanh liệt của các cô. Không ít lần các cô phải “đọ súng” với những máy bay tối tân của không lực Hoa Kỳ, và cũng bao lần máy bay Mỹ phải tan xác trên bầu trời miền Bắc. Câu thơ còn cho ta hiểu thêm về sự ác liệt của chiến tranh và tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của các cô gái Lam Hạ… Họ đã trở thành biểu tượng thiêng liêng, bất tử cho tinh thần xả thân vì đất nước.

Mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ không chỉ được ngợi ca bằng vẻ đẹp về hình thức, mà tác giả còn khắc họa “chân dung” họ bằng vẻ đẹp tinh thần: “Mười tình yêu dẫu không lời/ Vẫn vang vọng đến ngàn đời không quên/ Mười số phận một cái tên/ Đã thành bất tử ngay trên đất này...”.

Đọc câu thơ “Mười tình yêu dẫu không lời”, tôi hiểu tình yêu được nói ở đây trước hết là tình yêu quê hương, đất nước. Các cô nguyện dâng hiến tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình cho Tổ quốc...

Nhưng còn một tình yêu nữa, đó là tình yêu của nhà thơ, của tôi và bao thế hệ tiếp nối… dành cho các cô. Tình yêu ấy dẫu không diễn tả thành lời, nhưng ai ai cũng hiểu, cũng trân trọng. Hay nói đúng hơn, đó là lòng tự hào, ngưỡng mộ, biết ơn đối với những người đã không tiếc máu xương, cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc. Cách dùng từ đối lập trong câu thơ “Mười số phận một cái tên” cho ta hiểu: tuy mỗi người mỗi số phận, nhưng hành động dũng cảm, ý chí kiên cường của các cô đã viết nên một cái tên chung: “Mười cô gái anh hùng Lam Hạ”; mười cô gái bất tử; mười bông hoa thép; mười niềm tự hào của quê hương Lam Hạ nói riêng và cả nước nói chung.

Bài thơ “Mười cô gái anh hùng Lam Hạ” của nhà thơ Đặng Vương Hưng được cấu tứ theo thời gian hiện thực, quá khứ đan xen, điều đó càng làm rõ thêm ý chí, nghị lực cùng tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của mười cô gái Lam Hạ. Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng vẻ đẹp và phẩm chất anh hùng của các cô chưa bao giờ phai nhạt trong tâm cảm nhà thơ và trong ý niệm của mỗi người. Mười cô gái Lam Hạ được nhà thơ gọi bằng những cách khác nhau: Mười cô gái; Mười anh linh liệt nữ; Mười tình yêu; Mười số phận; và cao nhất là Mười Anh hùng. Cách xưng danh nào cũng nhằm tôn vinh, ngợi ca sự phi thường của các cô. Và như vậy, các cô mãi mãi trường tồn, tỏa sáng không chỉ trên quê hương Lam Hạ…

Hai câu thơ cuối “Mười Anh hùng vẫn đang chờ/ Quê hương Tổ quốc tôn thờ vinh danh...” nên hiểu như thế nào? Thoạt đầu, tôi hiểu: có vẻ như khi tác giả viết bài thơ này, sự hy sinh của các cô chưa được các cấp chính quyền địa phương quan tâm đúng mức chăng? Nhưng tìm hiểu thì được biết, Khu di tích đền Lam Hạ, trong đó có đền thờ mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ, được xây dựng từ năm 2009, ngay trên trận địa pháo các cô ngã xuống. Và trận địa phòng không nơi các cô hy sinh đã được công nhận là “Di tích lịch sử quốc gia”. Mà theo nhà thơ cho biết thì bài thơ này được viết năm 2016. Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa bài thơ, có thể hiểu: sự hy sinh anh dũng của mười cô gái Lam Hạ vẫn chưa có sức lan tỏa tương xứng chăng?

Tôi nghĩ có lẽ đúng hơn khi nhà thơ muốn nói đến trách nhiệm của những người đang sống rằng: chúng ta đã, đang và sẽ làm gì để một trang sử bi tráng của quê hương được trao truyền xứng đáng cho các thế hệ mai sau; để sự hy sinh của các cô càng thêm ý nghĩa?

Thật vui vì Khu di tích đền Lam Hạ, trong đó có đền thờ mười nữ dân quân pháo phòng không Lam Hạ, đã trở thành “địa chỉ đỏ”, giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Sự hy sinh của các cô đã trở thành huyền thoại, thành biểu tượng thiêng liêng, bất tử không chỉ trong lòng mỗi người dân Lam Hạ, mà còn lan tỏa trong toàn tỉnh và rộng ra khắp cả nước.

Vui nữa là, năm 2024, nhóm họa sĩ trẻ của “Trái tim người lính” đã phục dựng màu cho di ảnh mười liệt nữ Lam Hạ. Đây là một trong những nghĩa cử cao đẹp nhằm tri ân những người đã hy sinh xương máu cho sự bình yên hôm nay, để “Mười cô gái anh hùng Lam Hạ” – mười anh linh liệt nữ sáng ngời – mãi mãi trường tồn cùng quê hương, đất nước!

Nguyên Bình
(Bài đã phát sóng trong chương trình Văn nghệ Quân đội tổng hợp, kênh VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 18/10/2026).

Nguyên Bình

TIN LIÊN QUAN












































Mẹ là Từ Mẫu
Tạp chí nghiên cứu Phật học 2 phút trước














Home Icon VỀ TRANG CHỦ