🔍
Chuyên mục: Sức khỏe - Y tế

Bệnh nguy hiểm nhưng bị xem nhẹ, âm thầm khiến hàng triệu người ra đi

5 giờ trước
Các chuyên gia cảnh báo phế cầu khuẩn có thể trở nặng nhanh, gây biến chứng nguy hiểm và để lại di chứng kéo dài nếu phát hiện muộn.
00:00
00:00

Bệnh nhi 13 tuổi ban đầu chỉ sốt, ho nên được gia đình điều trị tại nhà. Tuy nhiên, sau khoảng một tuần, trẻ chuyển nặng nhanh chóng. Khi nhập viện, bệnh nhi được xác định viêm phổi nặng do phế cầu khuẩn, kèm tràn mủ màng phổi.

Kháng sinh phổ rộng được sử dụng ngay, nhưng cơn sốt vẫn không cắt, rồi nhanh chóng chuyển thành sốc nhiễm khuẩn. Từ một ca bệnh hô hấp tưởng như quen thuộc, đứa trẻ phải bước vào cuộc điều trị kéo dài với thở máy, dẫn lưu màng phổi và hàng loạt biện pháp hồi sức tích cực.

"Không ít phụ huynh nghĩ phế cầu khuẩn chỉ gây viêm phổi thông thường. Thực tế, vi khuẩn này có thể gây nhiều biến chứng, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời", bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TP.HCM), chia sẻ tại tọa đàm diễn ra ở TP.HCM sáng 24/6.

Một bệnh nhi nhiễm phế cầu khuẩn được điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng TP.HCM. Ảnh: BVCC.

Căn bệnh để lại nhiều di chứng

Khó khăn lớn nhất là mủ trong khoang màng phổi của trẻ bị chia thành nhiều ổ nhỏ, dày dính và không thông với nhau. Cuối cùng, các bác sĩ phải hai lần nội soi lồng ngực để bóc tách vách dính, hút mủ và làm sạch khoang màng phổi. Trong gần hai tháng nằm viện, đứa trẻ không chỉ chống chọi với nhiễm trùng nặng mà còn sút cân nghiêm trọng, từ 56 kg xuống chỉ còn hơn 40 kg.

Đến khi đủ điều kiện xuất viện, cuộc điều trị vẫn chưa thực sự khép lại. Bệnh nhi tiếp tục tập phục hồi chức năng hô hấp để hạn chế di chứng do màng phổi dày dính để lại - dấu vết của một đợt nhiễm phế cầu tưởng chừng khởi đầu chỉ như cơn sốt, cơn ho thông thường.

Theo bác sĩ Nguyễn Minh Tiến, sau giai đoạn giãn cách vì Covid-19, khi trẻ trở lại trường học và các hoạt động cộng đồng, các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp có xu hướng gia tăng trở lại. Trong bức tranh đó, phế cầu khuẩn tiếp tục là một trong những tác nhân đáng lưu ý.

Bệnh do phế cầu khuẩn không chỉ dừng lại ở những biểu hiện quen thuộc như viêm tai giữa, viêm họng, viêm amidan hay viêm phổi thông thường. Ở nhóm bệnh không xâm lấn, trẻ có thể chỉ biểu hiện bằng những triệu chứng hô hấp khá phổ biến. Nhưng khi vi khuẩn vượt qua hàng rào bảo vệ của cơ thể và đi vào máu, não hoặc khoang màng phổi, bệnh cảnh trở nên hoàn toàn khác: viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, tràn mủ màng phổi, thậm chí viêm cơ tim đều có thể xảy ra.

Phế cầu khuẩn có thể dẫn đến nhiễm trùng ở một số bộ phận của cơ thể. Ảnh: News-Medical.

Trong số các biến chứng nặng, viêm màng não do phế cầu là bệnh cảnh khiến giới chuyên môn đặc biệt lo ngại. Theo bác sĩ Tiến, tỷ lệ không qua khỏi của nhóm bệnh này có thể lên tới khoảng 44% dù đã được điều trị tích cực. Với những trường hợp nặng phải hồi sức kéo dài, chi phí điều trị có thể lên tới hàng trăm triệu, thậm chí cả tỷ đồng.

Đáng ngại hơn, ngay cả khi qua khỏi, khoảng 25-68% bệnh nhi vẫn có thể mang theo những di chứng kéo dài như giảm thính lực, chậm phát triển trí tuệ, rối loạn vận động, động kinh hoặc suy giảm khả năng học tập.

PGS.TS.BS Phạm Quang Thái, Phó khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cho biết trẻ nhỏ và người cao tuổi là hai nhóm chịu gánh nặng lớn nhất do phế cầu khuẩn. Trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ mang phế cầu trong đường hô hấp từ 48-65%, trở thành nguồn lây truyền quan trọng trong cộng đồng. Trong khi đó, tỷ lệ mang mầm bệnh ở người trên 60 tuổi có thể lên tới khoảng 10%.

Bác sĩ Tiến cho biết trẻ mắc bệnh mạn tính có nguy cơ mắc bệnh phế cầu nặng cao gấp khoảng 3 lần so với trẻ khỏe mạnh. Với nhóm trẻ suy giảm miễn dịch, nguy cơ này có thể cao hơn tới khoảng 40 lần. “Đây là những nhóm đối tượng cần được đặc biệt quan tâm. Chúng ta không thể bỏ sót các trẻ em yếu thế phía sau trong chiến lược phòng bệnh”, ông nói.

Một tình trạng đáng lo ngại

PGS.TS.BS Phạm Quang Thái cho biết thế giới hiện ghi nhận hơn 100 type huyết thanh phế cầu khuẩn, song chỉ một số ít trong đó gây ra phần lớn các ca bệnh xâm lấn và đe dọa tính mạng. Tại Việt Nam, những type đang lưu hành phổ biến nhất hiện nay gồm 19F, 6A, 6B, 23F và 19A.

Trong số này, 19F là type được giới chuyên môn đặc biệt lưu ý vì vừa phổ biến, vừa liên quan nhiều đến các bệnh cảnh nặng. Chủng này chiếm khoảng 17% số trường hợp mang vi khuẩn trong cộng đồng, liên quan tới khoảng 25% các ca bệnh phế cầu xâm lấn, không qua khỏi và xuất hiện ở khoảng 67% trường hợp viêm phổi do phế cầu.

Tiêm vaccine có ý nghĩa lớn trong phòng ngừa bệnh do phế cầu khuẩn. Ảnh: Shutterstock.

Bên cạnh đó, các type 6A và 6B cũng lưu hành rộng rãi, chiếm khoảng 15-23%, trong khi 23F chiếm khoảng 10%. Ngoài ra, giới chuyên môn cũng đang theo dõi chặt chẽ sự nổi lên của một số type mới như 11A và 14, vốn có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.

Song song với sự thay đổi của các type huyết thanh là một thách thức khác: tình trạng kháng kháng sinh ngày càng phức tạp. PGS.TS.BS Phạm Quang Thái cho biết trong thực tế điều trị, đã có những trường hợp được sử dụng hầu hết loại kháng sinh hiện có nhưng vẫn không qua khỏi do vi khuẩn kháng thuốc. Điều đáng lo ngại, theo ông, không chỉ là mức độ nặng của bệnh mà còn là khả năng đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng của phế cầu khuẩn.

Trong bối cảnh đó, vaccine vẫn được xem là một trong những công cụ quan trọng nhất để giảm gánh nặng bệnh tật. Theo các chuyên gia, hiện nhiều quốc gia đã đưa vaccine phế cầu vào chương trình tiêm chủng thường xuyên cho trẻ em. Tại Việt Nam, vaccine phế cầu cũng đã được đưa vào danh mục vaccine của Chương trình Tiêm chủng mở rộng theo lộ trình triển khai của ngành y tế.

“Bên cạnh trẻ dưới 2 tuổi, cần tiếp tục mở rộng độ bao phủ cho các nhóm nguy cơ cao và trẻ lớn hơn nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, biến chứng và không qua khỏi do phế cầu khuẩn”, vị chuyên gia nhấn mạnh.

Kỳ Duyên

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ