Bảo đảm tiếng nói của phụ nữ trong các quyết định chính sách: Từ chủ trương đến thực tiễn
Điều xã hội quan tâm không chỉ là tỉ lệ đạt được bao nhiêu phần trăm, mà là phụ nữ có thực sự tham gia sâu vào quá trình hoạch định, quyết định và giám sát chính sách hay không.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan (Đoàn Hà Nội) phát biểu thảo luận tại kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV. Ảnh: Như Ý
Chủ trương rõ, quyết tâm cao
Ngày 3-3-2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về Chiến lược quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, trong đó xác định rõ mục tiêu tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Tiếp đó, Quyết định số 2282/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021 - 2030” đã cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu: Phấn đấu đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75%, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ...
Tỉ lệ cán bộ nữ trong diện quy hoạch các chức danh quản lý, lãnh đạo các cấp đạt ít nhất 40% vào năm 2025 và đạt 50% vào năm 2030. Tỉ lệ cán bộ nữ trong diện quy hoạch các chức danh quản lý, lãnh đạo các cấp được đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực đạt 75% vào năm 2025 và đạt 90% vào năm 2030...
Những con số này khẳng định Đảng, Nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý để phụ nữ có cơ hội thực chất bước vào các vị trí quyết định chính sách. Nhấn mạnh tại lễ kỷ niệm 95 năm thành lập Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (tháng 10-2025), Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chủ trương thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, mở rộng cơ hội cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản trị, khởi nghiệp, khoa học công nghệ...
Thông điệp ấy cho thấy, việc nâng cao tỉ lệ lãnh đạo nữ không phải là sự ưu tiên mang tính hình thức, mà là một phần trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Liên hệ với thực tế hiện nay cũng thấy, cơ cấu giới trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là một chỉ dấu quan trọng. Sau hội nghị hiệp thương lần thứ ba, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã công bố danh sách 864 người chính thức ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, trong đó có 392 phụ nữ, chiếm 45,37%.
Ở cấp tỉnh, tổng số đại biểu HĐND cấp tỉnh được bầu theo luật định là 2.554 người; số người ứng cử đại biểu HĐND theo danh sách chính thức là 4.223 người, trong đó phụ nữ là 1.865 người, chiếm 44,12%. Ở cấp xã, tổng số đại biểu được bầu theo luật định là 72.613 người; người ứng cử trong danh sách chính thức là 121.242 người, trong đó phụ nữ là 51.106 người, chiếm 42,15%.
Tại Hà Nội, sau hiệp thương lần thứ ba, tổng số nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội là 17/39 người (tỉ lệ 43,6%); tổng số nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND thành phố là 86/205 người (tỉ lệ 42%); tổng số nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cấp xã là 2.324/5.193 người (tỉ lệ 44,8%). Như vậy, tỉ lệ nữ ứng cử nhiệm kỳ này đều đạt hơn 40%.
Từ “có mặt” đến “có tiếng nói”
Sự hiện diện về số lượng chưa phải là yếu tố bảo đảm tiếng nói có trọng lượng trong quá trình quyết định chính sách của phụ nữ. Dù những tỉ lệ nêu trên là rất đáng ghi nhận, nhưng đây mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là vai trò thực tế của nữ đại biểu trong nghị trường.
Thực tế, nhiều nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đã để lại dấu ấn trong hoạt động chất vấn, giám sát, đề xuất chính sách liên quan đến giáo dục, y tế, an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em. Song ở những lĩnh vực khó, tỉ lệ nữ tham gia ở vai trò chủ trì vẫn còn khiêm tốn. Điều này cho thấy thách thức không nằm ở việc “đủ tỉ lệ” hay “có mặt”, mà ở việc tạo điều kiện để phụ nữ “có tiếng nói”, tham gia vào không gian quyền lực cốt lõi của quá trình hoạch định chính sách phát triển đất nước.
Muốn vậy, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó cần quy hoạch cán bộ nữ từ sớm; tăng tỉ lệ nữ trong các khóa đào tạo nguồn; tạo cơ hội luân chuyển qua các vị trí then chốt; đánh giá cán bộ dựa trên năng lực thực chất thay vì định kiến giới. Khi phụ nữ được thử thách và rèn luyện ở những lĩnh vực khó, họ sẽ khẳng định được vai trò lãnh đạo toàn diện.
Bên cạnh đó, thay đổi nhận thức xã hội vẫn là yếu tố nền tảng. Định kiến giới, dù không rõ như trước, nhưng vẫn có thể tác động đến cách nhìn nhận năng lực lãnh đạo của phụ nữ. Một môi trường coi trọng hiệu quả công việc sẽ là không gian thuận lợi để phụ nữ “giải phóng” tối đa tiềm năng.
Chiến lược bình đẳng giới và Quyết định số 2282/QĐ-TTg đều nhắc đến mục tiêu phải đạt vào năm 2025. Do vậy, đã đến lúc cần nghiêm túc tổng kết việc triển khai các mục tiêu: Bao nhiêu chỉ tiêu đạt, bao nhiêu còn khoảng cách; quan trọng hơn, chất lượng tham gia của phụ nữ trong các quyết định chính sách đã thay đổi ra sao. Từ đó, có thể điều chỉnh chiến lược cho giai đoạn tiếp theo hướng đi vào chiều sâu, không chỉ tăng về số lượng, mà còn nâng cao chất lượng, tầm ảnh hưởng và vị trí thực quyền của nữ lãnh đạo trong hệ thống chính trị.
Nâng cao tỉ lệ lãnh đạo nữ hướng đến mục tiêu xây dựng một nền quản trị hiện đại, nơi mọi quyết sách đều được hình thành trên cơ sở lắng nghe đầy đủ tiếng nói của các nhóm trong xã hội - trong đó phụ nữ chiếm một nửa dân số. Khi phụ nữ được tham gia bình đẳng và thực chất vào quá trình ra quyết định, chính sách sẽ toàn diện và bền vững hơn.
Minh Thúy
2 giờ trước
23 phút trước
2 giờ trước
6 phút trước
5 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
5 phút trước
12 phút trước
35 phút trước
37 phút trước
39 phút trước
46 phút trước
50 phút trước