🔍
Chuyên mục: Thời sự

Bảo đảm quyền con người trên môi trường công nghệ số

4 giờ trước
Công nghệ thông tin và AI mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng gây những tác động tiêu cực đến việc bảo đảm một số quyền con người, nhất là với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Theo các chuyên gia cần hoàn thiện khung pháp luật, làm chủ công nghệ và bảo đảm phát triển số bao trùm, lấy con người là trung tâm.

Những tác động tiêu cực đến việc bảo đảm một số quyền con người

Tại hội thảo “Tận dụng cơ hội và giảm thiểu rủi ro của công nghệ số đối với các nhóm dân cư trong xã hội” tổ chức ngày 12/1, GS. TS Vũ Công Giao, Trường Đại học Luật Hà Nội cho biết, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) gây ra những tác động tiêu cực đến việc bảo đảm một số quyền con người trên một số phương tiện sau:

Quyền về đời sống riêng tư, dữ liệu cá nhân: Các nền tảng công nghệ thu thập, xử lý dữ liệu người dùng không minh bạch, vượt quá mục đích. Cá nhân không biết, không kiểm soát, không có lựa chọn thực chất đối với dữ liệu của mình: chấp thuận mang tính cưỡng bức, không tương xứng về quyền lực. Dữ liệu bị tái sử dụng cho mục đích giám sát, thương mại, hoặc kiểm soát hành vi.

Quyền bình đẳng, tự do thông tin. Thuật toán thiên lệch khuếch đại định kiến về giới, dân tộc, vùng miền, tình trạng kinh tế - xã hội. Dữ liệu huấn luyện phản ánh bất bình đẳng xã hội sẵn có. Tình trạng kiểm duyệt thuật toán và thao túng thông tin để gợi ý nội dung ưu tiên lợi ích thương mại hoặc chính trị, thao túng dư luận, tung tin giả. Điều này dẫn đến hệ quả phân biệt đối xử “vô hình nhưng có hệ thống”, khó khiếu nại và chứng minh, làm suy giảm tự do ngôn luận.

GS. TS Vũ Công Giao cho rằng, công nghệ thông tin và AI gây ra những tác động tiêu cực đến việc bảo đảm một số quyền con người.

Quấy rối, bạo lực và xâm hại trên không gian mạng ngày càng gia tăng, trong khi đó, cơ chế phản hồi từ các nền tảng số thường chậm chạp và thiếu hiệu quả, dẫn đến hệ quả nghiêm trọng như xâm phạm danh dự, nhân phẩm và quyền an ninh cá nhân.

Tình trạng bóc lột lao động số và quản lý bằng thuật toán cũng đặt ra nhiều thách thức khi lao động nền tảng thường không có hợp đồng ổn định, thiếu an sinh xã hội, bị giám sát liên tục, đánh giá tự động và chịu các hình thức sa thải, trừng phạt thiếu minh bạch. Điều này làm xói mòn quyền lao động, quyền được bảo vệ xã hội và quyền thương lượng tập thể.

Quyền tiếp cận công lý và thủ tục công bằng cũng bị ảnh hưởng khi nhiều cá nhân không biết lý do bị từ chối dịch vụ, phúc lợi hoặc bị giám sát, đồng thời thiếu các cơ chế khiếu nại và kháng nghị hiệu quả đối với các quyết định do thuật toán đưa ra.

Củng cố, hoàn thiện khung pháp luật

Theo GS. TS Vũ Công Giao, tương tự ở nhiều nước trên thế giới, tác động tiêu cực về nhân quyền của công nghệ số ở Việt Nam rất đa dạng, trong một số trường hợp là rất nghiêm trọng. Nhà nước đã nhận thức được vấn đề và đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp luật (Luật An ninh mạng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số…). Dù vậy, khung pháp luật vẫn cần củng cố, hoàn thiện.

GS. TS Vũ Công Giao cho rằng, pháp luật cần xác định rõ, thậm chí đưa ra định nghĩa cụ thể, về các nhóm dễ bị tổn thương mới trong bối cảnh công nghệ số. Trên cơ sở đó, cần làm rõ các hành vi vi phạm, chế tài cũng như cơ chế phòng ngừa và xử lý đối với những hành vi vi phạm. Đồng thời, việc ghi nhận và tích hợp các quyền kỹ thuật số vào các luật chuyên ngành là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm quyền con người trong môi trường số. Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát và thực thi pháp luật trên các nền tảng số, bao gồm cả sự tham gia của cơ chế giám sát xã hội, nhằm bảo đảm hiệu quả bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương.

Tại hội thảo ông Nguyễn Tuấn Lương, chuyên gia độc lập, nguyên Trưởng phòng thí nghiệm đổi mới sáng tạo của chương trình phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam gợi mở các giải pháp công nghệ hỗ trợ nhóm dân cư dễ bi ̣tổn thương như người lớn tuổi, người dân tộc thiểu số, lao động tự do, đồng thời cho rằng cần xây dựng thực lực nội sinh để thoát bẫy “thuộc địa số”. “Nếu Việt Nam chỉ dừng lại ở việc tiêu thụ công nghệ ngoại hoặc phụ thuộc vào FDI, chúng ta sẽ mãi kẹt lại phía bên kia của hố sâu phát triển. Chuyển đổi số phải là sự nâng cấp "hệ điều hành" tự chủ, nơi chúng ta làm chủ công nghệ thay vì chỉ là một “thuộc địa số” để các cường quốc khai thác dữ liệu và bán lại dịch vụ giá cao hơn”, ông Tuấn Lương chia sẻ.

Ông Nguyễn Tuấn Lương cho rằng, chúng ta cần công nghệ đẩy mạnh tri thức bản địa.

Theo ông Tuấn Lương, cần kháng lại “sàn phẳng văn hóa" bằng trí tuệ bản địa. Các mô hình AI hiện nay đang áp đặt thế giới quan của các quốc gia giàu lên toàn cầu, tạo ra một sự "san phẳng tư duy" đầy rủi ro. Chúng ta cần công nghệ đẩy mạnh tri thức bản địa, chứ không phải cố mua ồ ạt công nghệ số từ nước ngoài vì nó đang bắt trend. Sự vươn mình của dân tộc chỉ thực chất khi chúng ta giữ vững quyền tự quyết: Phát triển về công nghệ nhưng không đánh mất bản sắc chính trị và xã hội.

Phát biểu tại hội thảo, TS. Lương Thu Hiền, Phó Viện trưởng Viện Quyền con người cho biết, trên bình diện quốc tế, các diễn đàn đa phương của Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế đều nhấn mạnh rằng, chuyển đổi số cần được định hướng bởi cách tiếp cận dựa trên quyền con người, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

TS. Lương Thu Hiền cho rằng, chuyển đổi số cần được định hướng bởi cách tiếp cận dựa trên quyền con người.

Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển đổi số là một nhiệm vụ chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của phát triển. Việt Nam đồng thời là thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người, qua đó khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người.

Cùng chung ý kiến, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam cho rằng, công nghệ số chỉ phát huy giá trị khi quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và các quyền cơ bản của công dân được bảo vệ. Với các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số, môi trường số vừa mở ra cơ hội tiếp cận thông tin và dịch vụ, vừa tiềm ẩn rủi ro về lừa đảo, xâm phạm quyền riêng tư và hạn chế tiếp cận dịch vụ công số. Do đó, các cơ chế tham gia và tham vấn chính sách cần được thiết kế thực chất, dễ tiếp cận, minh bạch và có biện pháp bảo vệ phù hợp.

Minh Thư/VOV.VN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ