Bản tin nông sản hôm nay (30-6): Giá hồ tiêu, cà phê đi ngang
Hiện, giá hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Theo khảo sát tại các vùng trồng trọng điểm, giá thu mua phổ biến dao động 137.000 - 139.000 đồng/kg, không thay đổi so với cuối tuần trước.
Trong đó, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất cả nước, đạt 139.000 đồng/kg.
Giá hồ tiêu tại TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 137.000 đồng/kg.

Ảnh minh họa: kinhtedothi.vn
Theo các doanh nghiệp kinh doanh hồ tiêu, nguồn cung trong nước hiện không còn quá dồi dào, do phần lớn sản lượng vụ mới đã được tiêu thụ từ những tháng trước. Tuy nhiên, nhu cầu thu mua cũng diễn ra khá thận trọng, khiến thị trường chưa xuất hiện những biến động đáng kể về giá.
Giới phân tích cho rằng, mặt bằng giá hiện nay vẫn đang ở mức tương đối cao so với nhiều năm gần đây, tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng hồ tiêu, nhưng đồng thời cũng khiến các nhà nhập khẩu cân nhắc kỹ hơn trong hoạt động mua hàng.
Trên thị trường quốc tế, phiên giao dịch đầu tuần không ghi nhận nhiều biến động.
Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế (IPC), giá hồ tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn. Hồ tiêu đen Brazil loại ASTA 570 ở mức 5.900 USD/tấn, hồ tiêu đen Malaysia ổn định tại 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá hồ tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l và 550g/l vẫn duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc hồ tiêu trắng, giá hồ tiêu trắng Muntok của Indonesia được niêm yết ở mức 9.252 USD/tấn. Hồ tiêu trắng Malaysia và Việt Nam giữ nguyên mức giá lần lượt là 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Theo giới kinh doanh, việc giá hồ tiêu thế giới duy trì ổn định phản ánh trạng thái cân bằng tương đối giữa cung - cầu trong ngắn hạn. Các nhà nhập khẩu vẫn theo dõi sát diễn biến nguồn cung từ những quốc gia sản xuất lớn, trước khi đưa ra các quyết định mua hàng quy mô lớn.
Giá cà phê tại thị trường nội địa chưa ghi nhận biến động mới. Theo khảo sát tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua cà phê nhân xô tiếp tục dao động 89.900 - 90.000 đồng/kg.
Trong đó, Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước khi duy trì mốc 90.000 đồng/kg. Theo sau là Gia Lai và Đắk Lắk với cùng mức giá 89.900 đồng/kg.
Sau nhịp phục hồi khá mạnh trong tuần trước, thị trường cà phê trong nước đang bước vào giai đoạn tích lũy, khi cả người bán lẫn doanh nghiệp xuất khẩu đều thận trọng theo dõi diễn biến trên các sàn giao dịch quốc tế.

Ảnh minh họa: kinhtedothi.vn
Theo các doanh nghiệp kinh doanh cà phê, lượng hàng còn lại trong dân không còn nhiều. Tuy nhiên, nhiều nông hộ vẫn chưa vội bán ra, khi kỳ vọng giá có thể tiếp tục được hỗ trợ nếu thời tiết tại Brazil tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch.
Trên thị trường quốc tế, diễn biến giá tiếp tục phản ánh tình trạng nguồn cung ngắn hạn còn hạn chế. Kết thúc tuần giao dịch vừa qua, trên sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 7-2026 tăng 4,9%, tương đương 177 USD/tấn, lên 3.817 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 9 chỉ tăng khoảng 1%, đạt 3.627 USD/tấn.
Xu hướng tương tự cũng xuất hiện trên sàn New York. Giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 4,2%, tương đương 11,7 US cent/pound, lên 286,75 US cent/pound, trong khi hợp đồng giao tháng 9 chỉ tăng khoảng 2%, lên 273,2 US cent/pound. Khoảng chênh lệch đáng kể giữa hợp đồng giao gần và giao xa cho thấy các doanh nghiệp rang xay vẫn đang cần nguồn hàng ngay, trong khi lượng cà phê sẵn sàng giao trên thị trường chưa thực sự dồi dào.
Một trong những yếu tố tiếp tục hỗ trợ giá là tiến độ thu hoạch tại Brazil vẫn chịu tác động từ thời tiết. Những trận mưa xuất hiện thời gian gần đây đã làm chậm hoạt động thu hái tại một số vùng sản xuất, đồng thời làm dấy lên lo ngại về chất lượng hạt.
Bên cạnh đó, lượng tồn kho cà phê được chứng nhận trên Sở Giao dịch Liên lục địa (ICE) vẫn ở mức rất thấp. Tính đến ngày 26-6, tồn kho arabica chỉ còn khoảng 382.084 bao - mức thấp nhất trong hơn hai năm.
Theo báo cáo được Liên đoàn Cà phê châu Âu (ECF) công bố và được Comunicaffe dẫn lại, Liên minh châu Âu (EU) hiện vẫn là khu vực tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới, khi chiếm khoảng 24% tổng lượng tiêu dùng toàn cầu. Năm 2025, EU đã nhập khẩu khoảng 2,9 triệu tấn cà phê nhân và cà phê rang từ các quốc gia ngoài khối, tương đương khoảng 48,3 triệu bao, với tổng giá trị 18,7 tỷ euro.
Brazil tiếp tục là nhà cung cấp lớn nhất, chiếm khoảng 34,2% tổng lượng cà phê nhập khẩu của EU. Việt Nam giữ vị trí thứ hai với khoảng 587.000 tấn, tương đương 20% thị phần. Ngoài hai quốc gia này, các nguồn cung lớn khác của EU còn có Uganda, Colombia, Honduras, Ethiopia, Ấn Độ và Indonesia. Tổng cộng 8 quốc gia này chiếm khoảng 85% lượng cà phê mà EU nhập khẩu trong năm.
Đáng chú ý, mặc dù khối lượng nhập khẩu chỉ biến động nhẹ trong những năm gần đây, nhưng giá trị nhập khẩu lại tăng mạnh do giá cà phê thế giới leo thang. Từ mức khoảng 5,8 tỷ euro năm 2020, tổng kim ngạch nhập khẩu cà phê của EU đã tăng lên khoảng 17 tỷ euro trong năm 2025.
Báo cáo cũng cho thấy cà phê nhân chưa khử caffeine vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm hơn 96% tổng lượng nhập khẩu của EU. Các nhóm sản phẩm như cà phê rang, cà phê hòa tan và cà phê đã khử caffeine chỉ chiếm tỷ trọng khá nhỏ.
Về cơ cấu nhập khẩu, Đức và Italy tiếp tục là hai cửa ngõ nhập khẩu cà phê lớn nhất châu Âu. Cùng với Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan và Pháp, 6 quốc gia này chiếm gần 90% tổng lượng cà phê nhập khẩu từ các nước ngoài EU.
Trong bối cảnh tồn kho toàn cầu vẫn ở mức thấp và nhu cầu tiêu dùng tại châu Âu duy trì ổn định, thị trường cà phê thế giới nhiều khả năng sẽ tiếp tục chịu tác động đồng thời từ tiến độ thu hoạch tại Brazil và diễn biến nguồn cung ngắn hạn trong thời gian tới.
VIỆT CHUNG
34 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
4 giờ trước
16 phút trước
18 phút trước
Vừa xong
2 phút trước
1 giờ trước
2 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
11 phút trước