Bài 2: Năm tấm Bằng Tổ quốc ghi công và ký ức căn hầm dưới bụi gai găng

Đại biểu Huỳnh Xuân Thanh bên Lăng Bác trong dịp tham dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Năm người thân ngã xuống qua hai cuộc kháng chiến, bà ngoại là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, người cha là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phía sau những tấm bằng ông Huỳnh Xuân Thanh gìn giữ còn có căn hầm bí mật dưới bụi gai găng, tuổi thơ của một cậu bé giao liên và phần đời lặng lẽ của Dì Hai - người vừa làm giao liên, vừa nuôi bốn đứa cháu mất cha mẹ.

Trong căn nhà tại Đà Nẵng, ông Huỳnh Xuân Thanh vẫn gìn giữ những tấm Bằng Tổ quốc ghi công, Bằng truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, huân chương, giấy chứng nhận cùng nhiều tập hồ sơ đã nhuốm màu thời gian. Năm tấm Bằng Tổ quốc ghi công mang năm cái tên: Hồ Công Trịnh, Hồ Công Đình, Hồ Công Chinh, Huỳnh Xuân Nhị và Hồ Thị Ngoạn.

Năm tấm Bằng Tổ quốc ghi công mang năm tên: Hồ Công Trịnh, Hồ Công Đình, Hồ Công Chinh, Huỳnh Xuân Nhị và Hồ Thị Ngoạn.
Ba người đầu là ba cậu ruột bên ngoại, đều là anh của mẹ ông Thanh. Theo lời ông, cả ba hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp khi chưa lập gia đình. Hai người còn lại là cha và mẹ ông, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.

Bà Trần Thị Kiền, bà ngoại ông Thanh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Trên những tấm bằng, các mốc hy sinh trải dài qua gần ba thập niên: Liệt sĩ Hồ Công Trịnh, Bí thư chi bộ xã, hy sinh ngày 14/12/1944; liệt sĩ Hồ Công Đình, Đội viên du kích, hy sinh ngày 7/9/1947; liệt sĩ Hồ Công Chinh, Tiểu đội phó Quân đội nhân dân, hy sinh ngày 27/6/1952. Ba người con trai lần lượt không trở về trong chưa đầy 8 năm. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cha ông Thanh - liệt sĩ Huỳnh Xuân Nhị, Bí thư Huyện ủy Đại Lộc - hy sinh năm 1969; một năm sau, mẹ ông, cán bộ giao liên Quân ủy Hồ Thị Ngoạn, hy sinh ngày 15/6/1970.
Phía sau những cái tên ấy là bà ngoại Trần Thị Kiền, bà ngoại ông Thanh sau này được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Riêng về Cậu Bốn, Hồ Công Trịnh, ông Thanh kể lại Cậu Bốn tham gia cách mạng từ sớm, từng bị thực dân Pháp bắt và giam tại Hội An, không khai báo dù bị tra tấn. Ông Thanh kể, sau khi sát hại Cậu Bốn, địch đã chặt đầu, cắt phần dương và phần âm, rồi quấn thi thể trong một chiếc chiếu, cho xe chở về Bồ Bồ, Điện Tiến và gọi người cha đến nhận. Khi chiếc chiếu được mở ra, ông ngoại nhận lại thi thể con trai mình trong tình trạng bị hủy hoại tàn khốc, một âm mưu hèn hạ của địch nhằm tiệt nòi người cộng sản và uy hiếp tinh thần nhân dân.
Hơn tám thập niên trôi qua, câu chuyện ấy vẫn được gia đình lưu giữ như một ký ức đau đớn về sự khốc liệt của những năm tháng trước Cách mạng Tháng Tám. Trên tấm Bằng Tổ quốc ghi công gia đình còn lưu giữ xác nhận dòng chữ đỏ vẫn khắc ghi: Liệt sĩ Hồ Công Trịnh, Bí thư Chi bộ xã, hy sinh ngày 14/12/1944 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm cái tên trên năm tấm bằng trải dài qua hai cuộc kháng chiến: 1944-1947-1952-1969-1970. Nhưng những tấm bằng với dòng chữ đỏ chỉ lưu tên người ngã xuống, chứ không kể được chiến tranh từng bước vào ngôi nhà ấy ra sao.
Trong ký ức người ở lại, chiến tranh hiện diện ngay trong khu vườn nhà ngoại, bên căn hầm bí mật dưới bụi gai găng.


Lá thư tháng 12/1966 của ông Huỳnh Xuân Nhị gửi con trai Huỳnh Xuân Thanh đang học ở miền bắc. Trong những dòng căn dặn con, ông Nhị còn hỏi thăm người bạn từng cùng ông Thanh làm liên lạc là Võ Tiến Trung, khi ấy đã lập thành tích “Dũng sĩ diệt Mỹ”; sau này cũng là Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng.
Trong tập tư liệu ông Thanh viết lại năm 2018 có một câu chuyện xảy ra vào một buổi chiều năm 1960. Khi ấy, ông mới khoảng tám tuổi, sống tại quê ngoại Điện Tiến, Điện Bàn. Trong nhà có bà ngoại Trần Thị Kiền, Dì Hai Hồ Thị Hinh, mẹ ông, cậu bé Thanh và người em gái mới hai tháng tuổi.
Theo lời ông Thanh, ngôi nhà khi ấy còn là một điểm giao liên của cách mạng, có hầm bí mật trong vườn để che giấu cán bộ. Một chiều, lính biệt động cùng lực lượng đối phương bất ngờ ập vào vây ráp. Dì Hai và mẹ ông lập tức bị bắt đưa đi thẩm vấn ở Châu Sơn. Trong nhà chỉ còn bà ngoại, cậu bé Thanh và người em gái nhỏ.
Những cây sắt được dùng để xăm tìm hầm từ ngoài ngõ, hàng tre vào các góc trong nhà. Không phát hiện được, những người lục soát quay sang hỏi dồn dập dội xuống đầu đứa trẻ 8 tuổi hỏi:
“Có người đàn ông nào về nhà ban đêm không?”
“Không thấy!”
“Có thấy ai đào hầm, đào hố ở đâu không?”
“Không thấy!”
Cậu bé Thanh lúc đó thực ra biết rõ vị trí căn hầm. Nhiều lần buổi trưa, thấy mẹ hoặc Dì Hai gánh nước qua giếng chung của xóm, giả vờ bỏ lại cơm, khoai, sắn trong thùng nước, cậu bé đã tinh ý quan sát và nhận ra lối vào hầm bí mật ẩn dưới bụi cây gai găng. Nhưng trước họng súng và những trận đòn dọa nạt, câu trả lời của cậu vẫn là không biết.

Huy chương kháng chiến hạng Nhì của ông Huỳnh Xuân Thanh được nhà nước trao tặng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Cuộc tra hỏi kéo dài sang ngày thứ ba. Điên tiết vì không khai thác được gì, bọn lính xông vào tát, đạp vào lồng ngực và dùng báng súng giội xuống người cậu bé. Đau đớn và nghẹt thở, nhưng đứa trẻ vẫn cương quyết không tiết lộ. Đến khi nhận ra cứ nói "không biết" mãi sẽ bị đánh đến chết, cậu bé nảy ra cách đánh lừa kẻ địch.
Cậu hét lên trong cơn đòn rằng mình biết chỗ hầm. Bọn lính mừng rỡ dừng tay. Cậu chỉ xuống gầm giường của mẹ, bảo ở đó có một cái hầm "to như cái nón". Ngay lập tức, chúng khiêng giường ra, đâm cây xăm xuống đất. Không có gì. Bị chửi rủa, cậu bé thản nhiên đáp: "Vì ông bảo cái miệng hầm to như cái nón, thì con Trập nhà tôi vẫn nằm đẻ con ở cái hố nó đào to như cái nón đó!".
Sau đó, cậu lại dẫn chúng ra đường giao thông hào ở hàng tre mới trồng, loanh quanh lừa địch cho đến khi chúng nản lòng rút lui. Căn hầm thật dưới bụi gai găng vẫn được bảo vệ an toàn.

Gần 60 năm sau, ông Huỳnh Xuân Thanh đọc lại những lời căn dặn của cha - liệt sĩ Huỳnh Xuân Nhị - gửi cho ông từ những năm tháng chiến tranh. Lá thư cũ vẫn được ông gìn giữ như một kỷ vật về người cha đã hy sinh.
Cậu bé tám tuổi khi ấy chưa thể biết, dưới căn hầm mình cố giữ kín đang diễn ra những gì. Mãi sau này, trong một lần lên căn cứ Huyện ủy Đại Lộc, Thanh gặp chú Lượng, người trong đội công tác và theo lời ông là cận vệ của cha mình. Chính lúc ấy, cậu mới được nghe kể lại câu chuyện phía dưới căn hầm trong những ngày ngôi nhà bị vây ráp.
Ông Thanh nhớ lời chú Lượng kể rằng: "Thằng này cừ lắm. Năm đó chú đang ở dưới hầm bí mật trong vườn nhà con, nhịn đói bốn ngày, không có nước uống, phải dùng nước tiểu của mình. Tất cả đã sẵn sàng, nếu địch tìm được hầm thì chú hủy tài liệu, lựu đạn cũng sẵn trong tay. Vậy mà con cừ quá, không khai, không chỉ."

Ông Đặng Ngọc Bình, nguyên Huyện ủy viên Đại Lộc, Bí thư Đảng ủy xã Đại Hiệp, xác nhận Huỳnh Xuân Thanh làm “cơ sở liên lạc giao liên hợp pháp cho Huyện ủy Đại Lộc” trong thời gian 1960-1964, có nhiệm vụ chuyển công văn, tin tức và đưa cán bộ đi lại.
Nhiều năm sau, những tư liệu ông Thanh lưu giữ bổ sung thêm căn cứ về quãng đời hoạt động ấy. Ngày 20/7/1988, ông Đặng Ngọc Bình, nguyên Huyện ủy viên Đại Lộc, Bí thư Đảng ủy xã Đại Hiệp, xác nhận Huỳnh Xuân Thanh là cơ sở của mình trong thời gian 1960-1964, làm “cơ sở liên lạc giao liên hợp pháp cho Huyện ủy Đại Lộc”, có nhiệm vụ chuyển công văn, tin tức và đưa cán bộ đi lại. Giấy xác nhận cũng ghi tháng 4/1964, ông Thanh bị thương, sau đó được tổ chức cho ra miền bắc chữa bệnh và học văn hóa.

Cũng trong căn nhà bị lục tìm hầm năm 1960 có Dì Hai - bà Hồ Thị Hinh. Nhưng vai trò gánh vác của Dì chỉ thật sự hiện rõ sau những biến cố dồn dập của gia đình.
Năm 1969, cha ông Thanh hy sinh. Một năm sau, mẹ ông - bà Hồ Thị Ngoạn - cũng ngã xuống. Người anh cả Huỳnh Xuân Thanh khi ấy đang học tập ở miền bắc, ở quê còn bốn người em nhỏ mất cả cha lẫn mẹ.
Dì Hai không lập gia đình. Theo ông Thanh, bà ở vậy chăm sóc mẹ già là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Kiền và cùng gia đình nuôi bốn người cháu. Bà vẫn tiếp tục làm công tác giao liên, hoạt động theo cánh Thành ủy Đà Nẵng và Huyện ủy Đại Lộc từ khoảng năm 1947 đến năm 1975. Theo lời ông Thanh, ngôi nhà gia đình từng là một điểm giao liên, nơi cán bộ qua lại và có hầm bí mật.
“Dì Hai nuôi bốn em của tôi vất vả lắm. Công của Dì lớn lắm”, ông Thanh nhớ lại.
Bởi vậy, mỗi khi kể về năm người thân đã được công nhận là liệt sĩ, ông đều nhắc phải nói đến Dì Hai thì câu chuyện gia đình mới đầy đủ. Phía sau những người đã hy sinh còn có một người phụ nữ không lập gia đình, tiếp tục làm giao liên rồi ở lại chăm mẹ già, nuôi những đứa cháu mất cha mẹ.
Theo ông Thanh, sau ngày giải phóng từng có giấy xác nhận quá trình Dì Hai làm giao liên trực tiếp, trong đó ông nhớ có xác nhận của ông Hà Kỳ Ngộ. Tuy nhiên, giấy tờ gia đình lưu giữ sau đó bị thất lạc. Dì Hai mất năm 1985, không chồng, không con; những người từng hoạt động cùng bà đến nay phần lớn cũng đã qua đời.
“Chú nhớ còn hai người từng hoạt động cùng Dì còn sống. Khi có dịp chú sẽ về quê tìm họ để xin xác nhận lại quá trình hoạt động, bổ sung hồ sơ cho Dì”, ông Thanh nói.
Ở tuổi ngoài 70, với ông Thanh, đó không chỉ là câu chuyện hoàn thiện một thủ tục. Thời gian càng lùi xa, giấy tờ có thể thất lạc, những người cùng thời cũng ngày một ít đi; việc xác minh một phần đời từng gắn với hoạt động cách mạng vì thế trở nên khó khăn hơn.

Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ Hồ Thị Ngoạn.
Người mẹ cuối cùng đã có Bằng Tổ quốc ghi công trở về với gia đình; người cha đã được đặt tên cho một con đường ở Đà Nẵng. Còn với Dì Hai, phần hồ sơ về quá trình hoạt động vẫn dang dở.
Hơn sáu thập niên sau câu chuyện về căn hầm dưới bụi gai găng, điều khiến ông Thanh nghĩ nhiều lúc này không còn chỉ là năm cái tên trên những tấm Bằng Tổ quốc ghi công: Hồ Công Trịnh, Hồ Công Đình, Hồ Công Chinh, Huỳnh Xuân Nhị và Hồ Thị Ngoạn. Đó còn là phần đời của Hồ Thị Hinh - người dì từng cùng mẹ ông bị bắt đưa đi thẩm vấn, tham gia giao liên nhiều năm rồi ở lại chăm mẹ già, nuôi những đứa cháu mất cha mẹ.
Ông Thanh muốn tìm lại những người còn có thể xác nhận cho Dì Hai, không phải để làm dày thêm thành tích của một gia đình đã có nhiều người hy sinh, mà để một phần đời đã dành trọn cho cách mạng, cho mẹ già và những đứa cháu mồ côi của bà được ghi lại khi vẫn còn những người có thể làm chứng.
Đó cũng là cách trân trọng lịch sử sâu sắc nhất: Không chỉ ghi nhớ những người đã được khắc tên trên những tấm bằng vinh danh, mà còn kịp thời gọi đúng tên những con người âm thầm lặng lẽ đứng phía sau họ.

Hằng năm, vào mùng 3 Tết, người ta thấy một ông lão 73 tuổi ăn bận chỉnh tề, đứng lặng lẽ mỉm cười bên cột biển đường mang tên "HUỲNH XUÂN NHỊ" tại thành phố Đà Nẵng. Đó là ngày sinh của cha ông.
THÙY LINH
4 ngày trước
1 giờ trước
4 phút trước
18 phút trước
20 phút trước
32 phút trước
37 phút trước
55 phút trước
57 phút trước
1 giờ trước