Bài 2: Mạnh dạn đổi mới, đi trước vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân

Với 45 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn không chỉ tạo nên diện mạo văn hóa phong phú cho Đắk Lắk, mà còn mở ra một nguồn lực đặc biệt cho phát triển. (Ảnh: CTV)
Trong công tác dân tộc và tôn giáo, không có một công thức duy nhất phù hợp mọi địa phương. Mỗi vùng đất có điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và đặc điểm cộng đồng khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng không phải là sao chép một mô hình có sẵn, mà là tìm ra cách làm phù hợp chính mình. Từ tư duy đó, Đắk Lắk là một trong những tỉnh dám đổi mới, dám đi trước và dám đặt ra những mục tiêu lớn hơn cho công tác dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.
Với 45 dân tộc anh em cùng sinh sống trên địa bàn không chỉ tạo nên diện mạo văn hóa phong phú cho Đắk Lắk, mà còn mở ra một nguồn lực đặc biệt cho phát triển. Mỗi cộng đồng có những giá trị riêng về tiếng nói, phong tục, lễ hội, âm nhạc, trang phục, nghề truyền thống, ẩm thực, kiến trúc, tri thức bản địa và không gian sinh hoạt cộng đồng. Nếu chỉ nhìn văn hóa dưới góc độ “bảo tồn”, chúng ta mới khai thác được một phần giá trị.
Xem văn hóa là một nguồn lực phát triển
Một nghề thủ công truyền thống có thể trở thành sản phẩm hàng hóa. Một lễ hội có thể trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng. Một không gian buôn làng có thể trở thành điểm đến văn hóa. Một món ăn truyền thống có thể trở thành sản phẩm đặc trưng… Những câu chuyện sử thi, âm nhạc, trang phục và tri thức bản địa có thể tạo nên thương hiệu riêng cho từng địa phương.
Nhưng phát huy văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa đơn thuần. Văn hóa chỉ có thể được bảo tồn bền vững khi văn hóa tiếp tục được sống trong cộng đồng, được thế hệ trẻ tiếp nhận, được trao truyền và làm giàu trong đời sống hiện đại. Vì vậy, một buôn làng phát triển không nhất thiết phải trở thành một khu đô thị giống nhau. Một xã hiện đại không có nghĩa là xóa nhòa bản sắc.
Phát triển nhưng không đánh đổi văn hóa; hiện đại hóa nhưng không đánh mất căn tính, đó là một trong những yêu cầu xuyên suốt trong cách tiếp cận mới của Đắk Lắk.

Trong những năm qua, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk luôn được bảo tồn và phát huy. (Ảnh: NGUYỄN CÔNG LÝ)
Bên cạnh đó, một xã phát triển không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế hay số lượng công trình được xây dựng, mà phải là nơi người dân có sinh kế ổn định, thu nhập ngày càng được nâng lên, trẻ em có điều kiện học tập tốt hơn, người dân tiếp cận thuận lợi hơn với y tế, nước sạch và các dịch vụ xã hội; môi trường sống được cải thiện; văn hóa được giữ gìn; cộng đồng đoàn kết và hệ thống chính trị cơ sở hoạt động hiệu quả.
Bởi vậy, mục tiêu xây dựng các xã “Xanh-Sạch-Đẹp-Văn minh-Bản sắc” trong Đề án 20 xã điểm mang ý nghĩa rộng hơn việc chỉnh trang cảnh quan.
Đường làng được chỉnh trang, cây xanh được trồng, điện chiếu sáng được đầu tư, môi trường được giữ gìn, không gian công cộng được cải thiện; nhưng trong những không gian ấy phải có sự hiện diện của văn hóa cộng đồng.
Nhà sinh hoạt cộng đồng có thể trở thành nơi lưu giữ hiện vật, nhạc cụ, trang phục và câu chuyện của buôn làng. Các nghề truyền thống có thể được phục hồi gắn với sinh kế. Những giá trị văn hóa có thể được kết nối với du lịch cộng đồng. Khi đó, “Xanh-Sạch-Đẹp-Văn minh-Bản sắc” không còn là một khẩu hiệu trang trí, mà trở thành thước đo chất lượng phát triển và chất lượng sống của người dân.
Kinh tế xanh, sinh kế bền vững - chìa khóa để giảm nghèo
Mục tiêu cuối cùng của mọi chính sách phát triển vẫn phải hướng đến con người. Và muốn nâng cao đời sống của nhân dân một cách bền vững thì không thể chỉ dựa vào các chính sách hỗ trợ. Cốt lõi phải là tạo sinh kế và thu nhập ổn định cho người dân.
Đề án 20 xã điểm của Đắk Lắk đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế xanh, cơ cấu lại sản xuất, phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, ứng dụng khoa học-công nghệ và chuyển đổi số; hình thành vùng sản xuất tập trung, gắn sản xuất với chế biến, xây dựng thương hiệu và thị trường.
Điều quan trọng là phải chuyển từ tư duy “sản xuất những gì mình có” sang “sản xuất những gì thị trường cần”, nhưng trên cơ sở khai thác đúng lợi thế của từng địa phương.
Khi người dân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; khi hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia tổ chức sản xuất; khi khoa học công nghệ và chuyển đổi số được đưa vào sản xuất, những lợi thế truyền thống sẽ có thêm cơ hội trở thành những giá trị kinh tế mới. Đó mới là nền tảng của giảm nghèo bền vững, giảm nghèo bằng năng lực tự phát triển chứ không chỉ bằng hỗ trợ.

Trồng cà-phê giúp đồng bào các dân tộc thiểu số nâng cao đời sống và phát triển bền vững. (Ảnh: NGUYỄN CÔNG LÝ)
Nếu Nghị quyết 07-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tạo ra tầm nhìn và Đề án 20 xã điểm tạo ra mô hình, thì một bước đi tiếp theo đang được Đắk Lắk chuẩn bị với mục tiêu rất cụ thể: đưa toàn bộ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.
Hiện nay, Sở Dân tộc và Tôn giáo đang trình Tỉnh ủy xem xét, ban hành Đề án “Hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ra khỏi diện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030”.
Đây là bước phát triển tiếp nối, nhưng có quy mô và mục tiêu bao quát hơn. Theo mục tiêu của Đề án, phấn đấu đến năm 2030 đưa toàn bộ 51 xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn theo quy định; đồng thời 449 thôn đặc biệt khó khăn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, qua đó hướng tới mục tiêu đến năm 2030 toàn tỉnh không còn xã, thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Đằng sau những con số ấy không đơn thuần là việc thay đổi một tiêu chí phân loại. Mục tiêu quan trọng hơn là tạo ra sự thay đổi thực chất về điều kiện sống và cơ hội phát triển của người dân.
Đó là từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng thiết yếu; phát triển sản xuất; nâng cao thu nhập; giảm nghèo bền vững; cải thiện chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; nâng cao chất lượng đời sống nhân dân; đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với mặt bằng chung của tỉnh.
Xa hơn, đây còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị-xã hội sâu sắc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
Nếu Đề án 20 xã điểm là bước thử nghiệm một cách làm mới, thì Đề án đưa xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn chính là bước mở rộng mục tiêu từ “điểm” ra “diện”, từ xây dựng mô hình đến giải quyết căn bản bài toán phát triển ở những địa bàn khó khăn nhất.
Nhìn tổng thể, từ Nghị quyết 07-NQ/TU, Đề án 20 xã điểm đến Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, có thể thấy một mạch tư duy nhất quán đang được hình thành trong công tác dân tộc của Đắk Lắk: Nghị quyết 07 là bước đột phá về tư duy và định hướng chính trị; Đề án 20 xã điểm là bước đột phá về phương thức tổ chức thực hiện và Đề án đưa xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn là bước đột phá về mục tiêu phát triển và kết quả cuối cùng cần đạt được.
Ba bước đi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Từ một nghị quyết chuyên đề, tỉnh hình thành những mô hình để kiểm chứng; từ những mô hình được kiểm chứng, tiếp tục hoàn thiện phương thức hỗ trợ; và cuối cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là tạo ra sự thay đổi thực chất, bền vững trên toàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đó cũng là sự chuyển đổi từ “hỗ trợ theo chính sách” sang “phát triển theo chiến lược”, từ “giải quyết khó khăn” sang “tạo năng lực phát triển”, từ “đầu tư dàn trải” sang “tập trung nguồn lực tạo điểm nhấn”, từ “một số mô hình riêng lẻ” hướng tới “những mô hình có khả năng lan tỏa trên diện rộng”.
Dấu ấn của một Đắk Lắk dám đi trước
Trong công tác dân tộc, không có một công thức duy nhất phù hợp mọi địa phương. Mỗi vùng đất có điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và đặc điểm cộng đồng khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng không phải là sao chép một mô hình có sẵn, mà là tìm ra cách làm phù hợp chính mình.
Chính vì vậy, từ việc tiên phong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc và tôn giáo; đến việc Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 2648/QĐ-UBND phê duyệt Đề án 20 xã điểm; và tiếp tục chuẩn bị Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030, Đắk Lắk đang từng bước hình thành một chuỗi chính sách có tính liên kết, có điểm bắt đầu, có mô hình thử nghiệm và có đích đến rõ ràng.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk tiên phong ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 thể hiện sự dám nghĩ, dám làm, dám đi trước vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. (Ảnh: NGUYỄN CÔNG LÝ)
Điều đáng nói nhất không nằm ở số lượng văn bản hay quy mô nguồn lực, mà nằm ở cách nghĩ. Đó là cách nghĩ coi đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể phát triển; coi văn hóa không chỉ là giá trị cần bảo tồn mà còn là nguồn lực; coi hạ tầng không phải là đích đến mà là điều kiện để mở ra sinh kế; coi xã điểm không phải là nơi nhận nhiều nguồn lực hơn mà là nơi thử nghiệm cách làm mới; và coi kết quả cuối cùng phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống của người dân.
Đắk Lắk có 45 dân tộc anh em. Mỗi cộng đồng là một sắc màu văn hóa, một nguồn lực và một tiềm năng phát triển. Khi những nguồn lực ấy được đánh thức, kết hợp với đầu tư có trọng tâm, khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và một hệ thống chính trị cơ sở đủ năng lực, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ không chỉ là nơi cần được hỗ trợ, mà sẽ trở thành một không gian phát triển giàu tiềm năng, giàu bản sắc và có sức đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển chung của tỉnh.
Nghị quyết 07 đã mở ra một tầm nhìn mới; Quyết định 2648 đã tạo ra một mô hình mới và Đề án đang trình Tỉnh ủy hướng tới mục tiêu đưa các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn sẽ tạo nên một đích đến mới.
Khi ba bước đi ấy được triển khai đồng bộ, thực chất, lấy người dân làm trung tâm và lấy hiệu quả thực tế làm thước đo, Đắk Lắk không chỉ giải quyết những khó khăn của hôm nay, mà còn đang đặt nền móng cho một phương thức phát triển mới của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đó là hành trình từ “thoát khó” đến “tự phát triển”; từ “hỗ trợ” đến “trao cơ hội”; từ một vài mô hình điểm đến mục tiêu không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; và trên hết, từ chính sách đến một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân.
Đó chính là dấu ấn của một Đắk Lắk dám đổi mới, dám đi trước và dám đặt ra những mục tiêu lớn hơn cho công tác dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.
NGUYỄN CÔNG LÝ-BÁ THĂNG
22 phút trước
5 ngày trước
1 giờ trước
4 giờ trước
14 phút trước
1 phút trước
5 phút trước
16 phút trước
27 phút trước
29 phút trước
30 phút trước
35 phút trước
36 phút trước