🔍
Chuyên mục: Thời sự

Bài 1: Sự cần thiết hình thành chế định luật sư công

8 giờ trước
Việc hình thành chế định luật sư công là kết quả của quá trình nghiên cứu, đánh giá nhu cầu của thực tiễn và thể chế hóa nhiều chủ trương lớn của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nâng cao năng lực pháp lý của khu vực công và bảo vệ hiệu quả hơn quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công nhằm thể chế hóa Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 và được triển khai thí điểm trong thời gian 2 năm tại một số Bộ và địa phương.

Những chủ trương, định hướng quan trọng của Đảng

Trong nhiều năm qua, Đảng đã có nhiều chủ trương, định hướng quan trọng liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao và nâng cao năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như hội nhập quốc tế.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định tiếp tục phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư, kinh doanh; phát triển mạnh các hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, bổ trợ tư pháp và các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Văn kiện cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường năng lực hội nhập quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp trong giải quyết tranh chấp thương mại và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình hội nhập.

Đến Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được đặt ra với trọng tâm là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu, hình thành chế định luật sư công và cơ chế phù hợp để thu hút luật sư, luật gia, chuyên gia pháp lý giỏi tham gia khu vực công.

Cùng với đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 69-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư; Kết luận số 73-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW của Ban Bí thư về hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật đều đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, đặc biệt trong các lĩnh vực có yếu tố quốc tế và những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia.

Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 về Đề án nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là căn cứ chính trị trực tiếp để Quốc hội ban hành Nghị quyết số 24/2026/QH16, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thí điểm mô hình mới này.

Những đòi hỏi từ thực tiễn quản lý nhà nước

Bên cạnh cơ sở chính trị và pháp lý, việc xây dựng chế định luật sư công còn xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động quản lý nhà nước.

Theo tài liệu xây dựng Nghị quyết số 24/2026/QH16, thời gian qua nhiều vụ án hành chính có tính chất phức tạp, trong khi việc tham gia tố tụng của cơ quan nhà nước còn gặp không ít khó khăn. Nhiều trường hợp việc chuẩn bị hồ sơ, tài liệu phục vụ tố tụng chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là nhiều cơ quan còn thiếu đội ngũ nhân sự có chuyên môn sâu, kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng và xử lý các vấn đề pháp lý phức tạp.

Bên cạnh đó, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thời gian qua đã tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho nhiều dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm. Các dự án này thường liên quan đến những vấn đề pháp lý phức tạp về đất đai, quy hoạch, đầu tư, thủ tục hành chính hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Trong bối cảnh đó, nhu cầu có đội ngũ pháp lý chuyên trách đủ năng lực tham gia từ sớm để tư vấn, nhận diện rủi ro và đề xuất giải pháp xử lý ngày càng trở nên cần thiết.

Không chỉ vậy, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cũng kéo theo sự gia tăng của các tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế và các vấn đề liên quan đến công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế. Trên thế giới, số lượng các vụ kiện giữa nhà đầu tư nước ngoài với chính phủ các quốc gia đang có xu hướng gia tăng. Việt Nam cũng đã và đang đối mặt với nhiều vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế liên quan đến các dự án đầu tư nước ngoài, các hiệp định bảo hộ đầu tư và các cam kết quốc tế đã ký kết. Trong khi đó, một số vụ việc phát sinh trước đây cho thấy có trường hợp luật sư chỉ được mời tham gia khi tranh chấp đã diễn biến phức tạp hoặc ở giai đoạn muộn, làm giảm hiệu quả phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Một thực tiễn khác cũng được đề cập là tình trạng khiếu nại, tố cáo, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vẫn diễn biến phức tạp, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số vụ việc phát sinh tại nhiều địa phương. Việc giải quyết các vụ việc này đòi hỏi sự tham gia của đội ngũ có kiến thức pháp lý chuyên sâu để hỗ trợ phân tích hồ sơ, rà soát quy trình, bảo đảm các quyết định được ban hành đúng quy định pháp luật, hạn chế phát sinh tranh chấp mới và giảm thiểu tình trạng khiếu kiện kéo dài.

Từ những yêu cầu trên, việc xây dựng chế định luật sư công được xác định là một giải pháp nhằm tăng cường nguồn lực pháp lý cho khu vực công, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ lợi ích của Nhà nước trong các quan hệ pháp lý ngày càng đa dạng, phức tạp.

Nghị quyết số 24/2026/QH16 tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thí điểm chế định luật sư công trong thời gian từ ngày 1/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028 tại một số Bộ, ngành và địa phương. Kết quả thực hiện thí điểm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá tính phù hợp, hiệu quả của mô hình trước khi xem xét các bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

(Còn tiếp)

Uyên San

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ