🔍
Chuyên mục: Thời sự

Bắc Ninh - Cực tăng trưởng quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng

2 giờ trước
Sáng 2/4, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổ chức sơ kết tình hình thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại 6 vùng kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì. Tại điểm cầu tỉnh Bắc Ninh, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy dự và chủ trì.

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Thái chủ trì hội nghị tại điểm cầu tỉnh Bắc Ninh.

Chuyển biến rõ nét trong thực hiện các nghị quyết phát triển vùng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Cụ thể hóa chủ trương này, năm 2022, Bộ Chính trị lần đầu ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với 6 vùng kinh tế - xã hội, gồm: Trung du và miền núi Bắc Bộ; đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; đồng bằng sông Cửu Long.

Sau hơn 3 năm triển khai, các nghị quyết đã tạo ra những chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện. Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, bộ, ngành Trung ương và địa phương về vai trò phát triển vùng được nâng lên rõ rệt. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo có nhiều đổi mới; cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, gắn kết giữa quy hoạch quốc gia với quy hoạch vùng và quy hoạch địa phương.

Kinh tế các vùng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng; nhiều cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm công nghiệp, dịch vụ được hình thành và phát triển. Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ; an sinh xã hội bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững...

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn như: Liên kết vùng chưa thực sự chặt chẽ; cơ chế điều phối còn thiếu hiệu lực; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; một số “điểm nghẽn” về thể chế, chính sách chậm được tháo gỡ. Vấn đề môi trường, nhất là ô nhiễm nguồn nước, không khí; khai thác tài nguyên; phát triển bền vững tiếp tục đặt ra yêu cầu cấp thiết.

Tại hội nghị, các đại biểu tập trung phân tích sâu những kết quả đạt được, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, tăng cường liên kết, tạo động lực phát triển mới trong giai đoạn tới.

Bắc Ninh đề xuất cơ chế phát triển mới

Phát biểu tại điểm cầu tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Thái nhấn mạnh: Dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị đã khẳng định Bắc Ninh cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh là 4 cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng. Đây là sự ghi nhận quan trọng đối với vai trò, vị thế của tỉnh trong tổng thể phát triển vùng.

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Thái phát biểu tại điểm cầu tỉnh Bắc Ninh.

Thực tế cho thấy, Bắc Ninh đang là một trong những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, bền vững với nhiều chỉ tiêu nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn cả năm 2025 (theo giá hiện hành) đạt trên 522.618 tỷ đồng; tăng trưởng GRDP đạt 10,27%, đứng thứ 5 cả nước, đứng thứ 4 vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong 6 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số năm 2025; Thu hút vốn đầu tư FDI và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu luôn ở vị trí tốp đầu.

Định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bắc Ninh xác định trở thành cực đô thị động lực của vùng Thủ đô mở rộng; trung tâm công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo; trung tâm logistics, thương mại, giáo dục - đào tạo, y tế chuyên sâu và văn hóa - du lịch vùng Kinh Bắc.

Từ thực tiễn đó, Bắc Ninh đề nghị bổ sung, điều chỉnh một số nội dung nhằm thể chế hóa rõ hơn định hướng phát triển của tỉnh trong giai đoạn tới.

Cụ thể, tỉnh đề xuất bổ sung nội dung “Phát triển Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mang dấu ấn văn hóa Kinh Bắc đặc sắc, là trung tâm công nghiệp công nghệ cao - logistics đa phương thức của cả nước và khu vực”.

Đồng thời, tỉnh kiến nghị điều chỉnh cách tiếp cận cụm từ: “Xây dựng tam giác động lực Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh thành trung tâm chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và logistics thông minh của khu vực Đông Nam Á” sang “Xây dựng 4 động lực Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng - Quảng Ninh thành trung tâm chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và logistics thông minh của khu vực Đông Nam Á”.

Một nội dung quan trọng khác là tỉnh đề xuất xây dựng khu thương mại tự do (FTZ) không chỉ tại Hải Phòng mà mở rộng sang Bắc Ninh, gắn với khu kinh tế Cảng hàng không quốc tế Gia Bình theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính. Đây được kỳ vọng sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng.

Kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng nhanh và bền vững

Phát biểu kết luận, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đánh giá cao các ý kiến phát biểu tâm huyết, trách nhiệm, có chiều sâu của các địa phương, bộ, ngành; đồng thời khẳng định, sau hơn 3 năm triển khai, các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng đã tạo ra những tác động tích cực toàn diện, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn tới, đồng chí chỉ rõ một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Trước hết, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các dự thảo báo cáo, kết luận theo hướng làm sâu sắc hơn kết quả đạt được, đồng thời nhận diện rõ các “điểm nghẽn”, nhất là về cơ chế, chính sách để có giải pháp tháo gỡ hiệu quả.

Thứ hai, trong bối cảnh sáp nhập, hợp nhất tỉnh, thành phố, không gian phát triển mới đang hình thành, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới tư duy, xây dựng mô hình phát triển phù hợp với từng vùng, từng địa phương; đồng thời có cơ chế đặc thù đủ mạnh để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế.

Thứ ba, liên kết vùng được xác định là xu thế tất yếu, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả phát triển. Do đó, cần đẩy mạnh liên kết cả về kinh tế, hạ tầng, dữ liệu, thị trường, nguồn nhân lực; tăng cường phối hợp trong xúc tiến đầu tư, phát triển du lịch và các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

Thứ tư, nghiên cứu, xây dựng thể chế đủ mạnh đi kèm với mô hình điều phối vùng hiệu quả, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khắc phục tình trạng phát triển cục bộ, phân tán.

Thứ năm, đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch vùng, làm cơ sở quan trọng để các địa phương triển khai quy hoạch và định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của mình.

Khẳng định các ý kiến tại hội nghị là cơ sở quan trọng để hoàn thiện các báo cáo, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương sẽ tiếp thu đầy đủ, tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Bộ Chính trị ban hành các chủ trương, quyết sách mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.

Tin, ảnh: Thu Phong

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ