🔍
Chuyên mục: Âm nhạc

Bác Duy - Hàng ngàn trang chìm nổi

3 giờ trước
Phạm Duy là người kể chuyện bằng chữ tài tình. Chữ nhiều tầng, nhiều chiều kích, nhiều hình ảnh, đọc chữ mà nghe âm thanh thánh thót, có đôi chỗ hay hơn nghe nhạc. Ông kể đời người nhẹ như không, với một kiểu văn tự tại và kiêu hãnh khi nói về những kiếp nạn, lầm lỗi, gian nan…

Từ khi ông quay về, chúng tôi luôn gọi ông là “bác Duy”. Ông có vẻ ưng cách gọi đó lắm. Mái tóc bạc trắng óng ánh, bồng bềnh đẹp rất đặc trưng “lão đại” rung rung mỗi khi ông cười vui. Ông cởi mở nhưng tinh tế và thấu đáo trong từng câu chữ cả những lúc đời thường, trò chuyện bên lề chứ không chỉ những cuộc phỏng vấn, ghi hình.

Ông hóm hỉnh, hài hước nhưng rất nhiều lúc trầm ngâm tự sự, buông thả suy tư như không hề có người nào trước mặt. Ông nhanh chóng đắm chìm vào một thế giới đẹp đẽ khác. Tôi cảm nhận được những khoảnh khắc hiếm hoi đó vì gương mặt ông bừng sáng một vẻ đẹp rực rỡ khi ông mở hồi ức. Phải, hồi ức, không còn là nỗi nhớ nữa, không hoài vọng nữa vì ông đã quay về rồi, đã được lững thững mặc áo nâu đi dọc “con đường cái quan” hoa gấm của quê nhà…

“Người về”

Chúng tôi, những người làm phim, làm nhạc, làm sách, thường lui tới căn nhà giản dị ở con hẻm cạn đường Lê Đại Hành (TP.HCM) có tiếng cười hào sảng của một chủ nhân đặc biệt. Chung quanh ông đầy âm nhạc và quá nhiều câu chuyện quý giá không chỉ của riêng ông.

Ông ưa ngồi trên bộ sofa da đen bóng, thư thả kể chuyện. Tôi cũng hay ngồi hơi khép nép phía đối diện, thỉnh thoảng nhìn lên một khung kính được treo trang trọng trên tường, nền nhung đỏ và hàng chữ vàng óng ánh: “PHẠM DUY - trở về cố hương”.

Ông nói: “Về cố hương, về đất Việt thật rồi nhưng thỉnh thoảng vẫn “hoài hương” vì còn nhiều vùng đất mình đã sống thời trai trẻ, giờ khó về thăm lại”.

Phạm Duy lững thững đi dọc đồng lúa ven đường ra Lạng Sơn, năm 2006.

Ngoài những trang viết và cuốn hồi ký đồ sộ trên những file máy tính dày dặc, tôi còn muốn thu lại tiếng nói của ông. Vì đó là một chất giọng đẹp, khúc chiết, đầy ngữ điệu nhấn nhá, đầy âm sắc trầm bổng, đầy buồn vui. Ông còn ngẫu hứng hát Mẹ có hay chăng con về, chiều nay thời gian đứng im để nghe, nghe gió trong tim tràn trề, nụ cười nhăn nheo bỗng dưng lệ nhòa…

Tôi từng rưng rưng nghe Thái Thanh, Lệ Thu, Trần Thái Hòa… hát, nhưng trong bối cảnh một gian phòng khách vắng vẻ rất âm vang, tiết mục rất “acapella” do chính tác giả kiêm ca sĩ ngoại hạng vang lên, cho một khán giả duy nhất, làm tôi cũng lệ nhòa. Tôi tiếc những khoảnh khắc xuất thần nầy không có thiết bị nào kịp ghi lại. Tôi bày tỏ ý định sẽ “sắm” cho ông một chiếc micro nhỏ gọn nhất, kết nối với máy tính của ông. Ông cứ để chế độ ON, khi nào tiện và có cảm hứng, ông cứ đọc thoải mái cuốn hồi ký của mình, lưu lại giúp chúng tôi giọng nói và tiếng hát của ông.

“Vậy mình đỡ phải vào studio nhiều lần, ảnh hưởng tới sức khỏe và cảm xúc. Thu âm ở nhà bác sẽ thoải mái hơn nhiều”, tôi nói. Ông vui vẻ giơ hai tay đồng ý (đó là chuyện cách đây gần 20 năm, khi mọi thao tác thu âm chuyên nghiệp đều cần phòng thu và phim trường chứ không nhanh gọn lẹ, người người nhà nhà làm YouTube, livestream như bây giờ).

Tôi qua tận Singapore, lục lọi trong chợ điện tử Simlim Square tìm mua cho ông một chiếc micro xinh xắn, một phiên bản nhỏ của micro phòng thu. Nhưng mọi việc không dễ dàng. Vì nhiều lý do này khác, dù ông và chúng tôi đã tận lực, những sáng kiến nho nhỏ đó để giữ lại di cảo audio book của ông đã không thành hiện thực.

Nhưng “trong đống tro tàn”, tôi vẫn giữ lại được những lời gan ruột của ông khi nói về dòng ca khúc hoài hương, yêu quê hương. Với riêng tôi, đó là dòng suối âm thanh tiếng Việt đẹp đẽ, lay động nhất mà tôi may mắn được soi mình, tận hưởng. Và may mắn hơn khi trưởng thành tôi còn là người được góp phần nhỏ để làm phim, làm nhạc, làm sách cho ông.

Tôi hỏi ông về tuyệt phẩm Tình ca, chiếc nôi tâm hồn của riêng tôi, và chắc của nhiều trang lứa cùng thế hệ. Tôi kể cho ông nghe những năm ở tuổi lên mười, đêm đêm, học bài xong, tôi luẩn quẩn bên chiếc radio Philips, chờ nghe Thái Thanh hát đoạn cuối bài Tình ca trong chương trình Dạ Lan. Giọng bà vô cùng “đãi bôi”: … một yêu, câu hát (a) Truyện Kiều lẳng lơ, như tiếng sáo diều chiều làng ta, và yêu (a) cô gái bên nhà, miệng xinh, ăn nói mặn mà (à) mà có (ư)…duyên

Thật.

Nếu ai đã nghe Thái Thanh hát bài đó trong bối cảnh mỗi buổi tối Sài Gòn thập niên 1960, nghe tiếng ngân, tiếng đẩy đưa của bà, mới thấy “đã” với tiếng Việt. Lúc ấy tôi chỉ biết có đoạn đó, lớn hơn một chút, được nghe thêm phần đầu: Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời, người ơi..., và mê nhất là câu mẹ hiền ru những câu… (âu) xa vời... Bà nhả chữ long lanh, êm ái, điệu đàng. Bà là người vỡ lòng tiếng Việt cho tôi, làm lay động tâm hồn non trẻ của tôi, để từ đó tôi biết yêu tiếng Việt, yêu say mê.

Nghe tôi kể thời thơ ấu của mình thấm đẫm nhạc của ông, ông có vẻ cảm động lắm, nói rằng năm đó (1953), ông vừa bế con trai sơ sinh (Duy Minh) vừa hát ru con bằng mấy câu “nóng hổi mới ra lò”: … Mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi, tiếng ru muôn đời

Phạm Duy trên đại lộ Nguyễn Huệ (TP.HCM) sau Tết Canh Thìn năm 2000.

Ông nói về Thái Thanh: “Theo tôi, đó là người phụ nữ có tiếng hát xứng với hai chữ “diễm tuyệt”. Cô ấy hát theo cách của cô ấy nhưng nó giống với sự tưởng tượng của tôi. Đến câu khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…, tôi nhớ đến những ngày gian khó, chúng tôi cùng nhau sống dưới một mái nhà tản cư, chứng kiến cuộc kháng chiến chống Pháp với biết bao câu chuyện, biết bao hình ảnh nhục nhằn, đau thương của đồng bào”.

Tình ca không phải là một bài hát khó hiểu cao siêu, chỉ bày tỏ lòng yêu tiếng mẹ, tiếng Việt, nước Việt. Nhưng không phải ca sĩ nào cũng hát được như Thái Thanh, hát bằng những thăng trầm và rung cảm của chính cuộc đời mình.

Có lần anh Bảo Chấn nói với tôi khi chúng tôi lan man về “chính tả trong âm nhạc” (dictation of music): “Tui học nghề hòa âm ca khúc một phần nhờ nghe nhạc của bác Duy. Thang âm, khúc thức thiệt tuyệt diệu, hay nhức nhối. Ổng còn giỏi dụng văn, điêu luyện và lả lướt tới từng dấu hỏi, dấu ngã… Bài hát của ông khi chưa dùng tới nhạc cụ chấm phá đã quá hay. Thái Thanh và một số ca sĩ gốc Bắc hát rất rõ âm tiết; các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Tròn vành rõ chữ là vậy. Nhưng cũng nhờ bác Duy đã “tính” rất chu đáo từ khi đặt bút viết. Chữ nào đặt vô note nào, vô khuôn nhạc nào, vô ngân rung, luyến láy ra sao… Chỉ có bậc thầy về chữ nghĩa và âm thanh mới có thể chỉn chu và bay bổng như vậy được”.

Tôi nghĩ, chỉ cần có bài hát đó thôi, bác Duy cũng vĩ đại lắm rồi.

Hàng ngàn trang chìm nổi

Ðể lại cho em này nước non mình
Ðể lại cho em một nước đẹp xinh
Một miền oai linh hiển hách
Chỉ còn dư vang thần thánh
Ðể lại cho em hèn kém của anh
Ðể lại cho em cuộc sống mệt nhoài
Ðể lại cho em hồn nước tả tơi
Ðường đời quanh co kẹt lối
Lòng người không căm giận dỗi
Ðể lại cho em tội lỗi qua rồi
(trích Tâm Ca 5 - nhạc Phạm Duy - thơ Nguyễn Đắc Xuân)

Không chỉ có vậy.

Kho báu để lại còn quá nhiều.

Còn hàng ngàn ca khúc, những trường ca, đoản ca, chủ đề âm nhạc… vô cùng đa dạng và độc đáo. Nhất là trường thiên câu chuyện của một chứng nhân lịch sử trong cuốn hồi ký ngàn trang. Cuốn hồi ký này có một định mệnh riêng, gian truân vào bậc nhất về những câu chuyện hoài thai sách vở và chữ nghĩa mà chúng ta có thể biết được.

Phạm Duy, đại lực sĩ (chữ của Nguyên Sa - trích từ chú thích trong bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh).

Bác Duy là người kể chuyện bằng chữ tài tình. Chữ nhiều tầng, nhiều chiều kích. Chữ trong sách của bác nhiều hình ảnh như một cuốn phim, đọc chữ mà nghe âm thanh thánh thót, có đôi chỗ hay hơn nghe nhạc.

Bác kể đời người nhẹ như không, với một kiểu văn tự tại và kiêu hãnh khi nói về những kiếp nạn, lầm lỗi, gian nan…

Khoảng năm 2009, bác gọi tôi đến gặp một người bạn Mỹ của bác. Ông Eric Henry đợi chúng tôi ở nhà sách Phương Nam. Hai ông vui mừng hả hê tay bắt mặt mừng, thay phiên nhau say sưa kể về bản thảo tiếng Việt cuốn hồi ký của bác Duy đã được ông Eric dịch kỹ lưỡng, vất vả tìm nhà xuất bản ở Mỹ, vượt qua những trở ngại có tên và không tên, hữu lý và vô lý…

Một bài báo nhỏ không cho phép tôi ghi lại hành trình gian nan của tác phẩm đó. Tôi chỉ có thể kể một chút về tình bạn không biên giới mà tôi chứng kiến trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, xúc động và thú vị. Tôi được nhìn tận mắt, thấy rõ cách họ trân trọng, quý mến và tin tưởng nhau.

Hai ông cho tôi xem một tập bản thảo dày cộp. Tôi chỉ thoáng thấy hàng chữ The Memoirs of Pham Duy.

Ông Eric:

- Ông bạn “Tarzan” của tôi, cô có biết vì sao tôi nể ông ấy không?

Bác Duy cười sảng khoái:

- Tôi nói với ông ấy tôi là Tarzan vì tôi không bao giờ để ông ấy chờ lâu. Tôi làm việc khỏe như… Tarzan mà.
Eric:

- Cách đây nhiều năm tôi hứa sẽ dịch thật tốt cuốn sách quý giá này, giờ đây chúng tôi tìm cách xuất bản.

Một hẹn ước bạn bè, với bản thảo trong hai đôi tay ấm áp sau một chặng đường dài cần mẫn của cả hai người.

Vì cũng từng nếm chút gian nan của nghề làm sách, tôi cảm nhận được sự mừng vui của họ. Tôi chỉ chưa rõ bản thảo quý giá vào thời điểm đó, đang ở giai đoạn “lên bờ xuống ruộng” nào trong cuộc trường chinh về sản xuất, nhất là khát vọng góp mặt vào kho tàng tri thức mênh mông của nhân loại và thế giới.

Bác Duy: “Ông ấy làm việc với tôi, từng chút một, cô có tin là chúng tôi phải săm soi một bộ ghi chú tỉ mỉ có 1.500 chú thích từng địa danh, nhân vật…”.

Phạm Duy hội ngộ dịch giả Eric Henry tại TP.HCM năm 2009.

Đến giờ, tôi vẫn nhớ rõ ràng từng chi tiết về không gian, không khí; cả từng ánh mắt, tiếng cười tràn trề hy vọng của họ.

Mười sáu năm trôi qua…

Tôi được biết, sau khi bác Duy mất, ông Eric Henry vẫn đơn độc bước tiếp, chưa hề nản lòng.

Một tin vui đã lóe lên từ ông Eric Henry. Bộ sách đã vượt qua những thủ tục cuối cùng với nhà xuất bản Cornell University Press. Một quy trình chuyển giao bản thảo từ dịch giả đến nhà xuất bản được thực hiện chỉn chu, với thời điểm cuối: Tập 4: Ngày 25 tháng 4 năm 2026 (*).

Hàng ngàn trang chìm nổi đã đến bến bờ.

“Giống như Anh, tôi suốt nhiều năm đã được cái may mắn trở nên khá thân mật với nhiều người bất thường tầm (chữ của Eric). Tiếc thay, họ đang dần dần trở thành người của trăm năm cũ rồi. Tôi nên bắt chước Anh và thử viết một tập “chân dung” để vinh danh họ” (trích bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh về tập hồi ký The Memoirs of Pham Duy) (**)

Bài: Thanh Thủy - Ảnh: Phong Quang

______________

(*) Trích một nội dung hợp đồng xuất bản của dịch giả Eric Henry với nhà xuất bản Cornell University Press, cho thấy thời điểm chuyển giao phần bản thảo cuối cùng là tháng 4.2026 (The Memoirs of Phạm Duy. Translated from the Vietnamese by Eric Henry. To be published by Cornell University Press). “Ngoài bộ hồi ký này, ông còn là tác giả của khoảng 800 bài hát, khoảng 300 bộ lời tiếng Việt cho các bài hát ngoại quốc, nhiều bài báo, sách phương pháp chơi guitar, một cuốn sách về lịch sử ban đầu của nhạc đại chúng ở Việt Nam, một cuốn sách về những người ông từng quen biết và một số cuốn sách về nhạc dân gian Việt Nam, bao gồm cả sách tiếng Anh” (trích lời giới thiệu sách của dịch giả Eric Henry)

(**) Một vài thông tin của bài báo này có đối chiếu và sử dụng một số chi tiết trong bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh về nhà văn Eric Henry và hành trình dịch thuật cuốn Hồi ký Phạm Duy sang tiếng Anh













Home Icon VỀ TRANG CHỦ