🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Ba mộc bản sắc phong ở Thổ Bình

5 giờ trước
Nhắc đến phụ nữ Tuyên Quang, người ta thường nhớ ngay đến nét duyên dáng, đằm thắm trong câu ca xưa. Nhưng đằng sau vẻ đẹp hiền hòa ấy còn là những câu chuyện lặng thầm về đức hy sinh và lòng thủy chung. Ngược dòng thời gian về năm Khải Định thứ 3 (1918), tại vùng Thổ Bình xưa có ba người phụ nữ bình dị đã được nhà vua trân trọng ban tặng danh hiệu 'Tiết hạnh khả phong'. Trải qua hơn một thế kỷ, chuyện về ba tấm sắc phong mộc bản vẫn được người dân nơi đây giữ gìn và truyền tai nhau, nhẹ nhàng tựa như một khúc hát êm đềm ngợi ca tình yêu gia đình và vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ, người vợ xứ Tuyên.

Tấm sắc phong “Tiết hạnh khả phong” của vua Khải Định tặng bà La Thị Nội, thôn Nà Cọn, xã Bình An được con cháu nhiều đời giữ gìn.

Ba đạo sắc phong “độc nhất vô nhị”

Người ta vẫn thường ví von làn da trắng ngần, nụ cười tươi tắn của thiếu nữ Tuyên Quang là do được hưởng trọn linh khí của núi rừng, được tắm mát bởi những dòng sông dạt dào phù sa. Từ bao đời nay, sông Lô, sông Gâm cứ êm đềm nuôi dưỡng nên những người con gái mang vẻ đẹp thanh tân, dịu dàng. Thế nhưng, bàn về bề sâu của vẻ đẹp xứ Tuyên, các nhà nghiên cứu lịch sử đều nhận định, nhan sắc dẫu kiều diễm đến đâu rồi cũng sẽ điểm nét phong sương theo thời gian. Cốt cách làm nên vẻ đẹp trường tồn của người phụ nữ nơi đây không nằm ở lụa là gấm vóc, mà thẳm sâu bên trong là sự tảo tần, đảm đang và tấm lòng sắt son chung thủy.

Lịch sử của vùng đất này đã minh chứng rõ nét cho cốt cách ấy. Khi phên giậu biên cương có giặc giã, những người con gái tưởng chừng liễu yếu đào tơ lại thể hiện những nghị lực phi thường. Họ lặng lẽ gạt nước mắt, dốc lòng vun vén chăm lo gia đình chồng, trở thành hậu phương vững chắc để người tiền tuyến yên tâm xung trận bảo vệ Tổ quốc. Khi người chồng anh dũng ngã xuống, họ gánh trọn nỗi đau góa bụa nhưng không hề gục ngã. Nhìn nhận về vấn đề này nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tống Đại Hồng chia sẻ: “Dù mất chồng từ khi tuổi đời còn rất trẻ nhưng vì trọng đạo hiếu nghĩa, những người phụ nữ ấy đã nén chặt bi thương. Bằng nghị lực của người con gái miền sơn cước, họ giữ vẹn lòng son sắt thủ tiết thờ chồng, tận tâm phụng dưỡng mẹ cha và dùng trọn phần đời còn lại khuya sớm nhọc nhằn để nuôi dạy bầy con thơ dại trưởng thành”.

Chính bởi đức hạnh vẹn toàn và sự hy sinh cao cả ấy, vào năm 1918 (tức năm Khải Định Tam Niên), Vua Khải Định đã quyết định ban tặng danh hiệu cao quý “Tiết hạnh khả phong” cho ba người phụ nữ: Ma Thị Thiều, La Thị Nội và Nguyễn Thị Ninh. Điểm đặc biệt hiếm có là cả ba bà đều sống chung trong một tổng nhỏ miền núi (tổng Thổ Bình xưa) nay là xã Bình An và Minh Quang. Ba bà cùng làm dâu con của dòng họ Ma Doãn danh giá.

Trong xã hội phong kiến, “Tiết hạnh khả phong” là sự ghi nhận tột bậc, là ân sủng trang trọng nhất của triều đình dành cho những người phụ nữ thủ tiết thờ chồng, phụng dưỡng mẹ cha, nuôi dạy con cái thành bậc hiền tài. Thường thì cả một tỉnh rộng lớn mới trải qua quá trình xét duyệt khắt khe để vinh danh một người, vậy mà nơi thâm sơn cùng cốc lại có tới 3 bóng hồng được nhận đặc ân này. Điều đó minh chứng rõ nét cho nếp nhà nề nếp và phẩm hạnh chói sáng của người phụ nữ nơi đây.

Không phải những tờ giấy bản mỏng manh, dát vàng dễ bị thời gian làm cho mục nát, ba đạo sắc phong nơi xóm núi này được chế tác thành những khối mộc bản bằng gỗ quý. Kích thước mỗi cỗ mộc bản dài chừng 1m, rộng 50 cm và dày đến 10 cm, vô cùng vững chãi và mang đậm hơi thở của văn hóa miền núi. Ở chính giữa bề mặt gỗ, bốn đại tự chữ Hán “Tiết hạnh khả phong” được chạm khắc nổi tinh xảo và thếp vàng uy nghi, bất chấp lớp bụi mờ của trăm năm dâu bể.

Xứng đáng danh hiệu “tiết hạnh khả phong”

Trong số ba bậc liệt nữ được suy tôn, câu chuyện về bà Nguyễn Thị Ninh nguyên quán xã Khúc Phụ, nay là xã Minh Quang. luôn để lại những niềm xúc động sâu sắc cho hậu thế. Bà Ninh là vợ của Chánh đội trưởng suất đội cơ Ma Doãn Khâm - một người con xuất thân từ dòng tướng môn trâm anh thế phiệt, là cháu nội của Tề Quận công Ma Doãn Mẫn lẫy lừng.

Khi giặc giã tràn tới quấy nhiễu cõi bờ, ông Khâm mang trong mình dòng máu trung quân ái quốc đã anh dũng ngã xuống nơi sa trường. Chồng mất, để lại người vợ trẻ có nhan sắc nức tiếng khắp vùng cùng ba đứa con còn quá đỗi thơ dại. Khép lại mọi lời ngỏ ý, dạm hỏi từ những nơi quyền quý mong muốn được gánh vác chở che, bà Ninh kiên quyết ở vậy thủ tiết thờ chồng. Bằng đôi bàn tay mềm yếu và bờ vai bé nhỏ, bà nhọc nhằn khuya sớm, dầm sương dãi nắng trên nương ngô, thửa ruộng để nuôi dạy các con.

Sự hy sinh thầm lặng ấy đã kết nên trái ngọt. Năm tháng trôi qua, ba người con trai của bà đều trở thành những trụ cột vững chắc của quê hương. Con cả Ma Doãn Khôn với trí thông minh xuất chúng, tính tình ngay thẳng, đi lính lập nhiều công trạng, sau này được tín nhiệm giao làm chức Tri châu Chiêm Hóa rồi thăng lên Bố chánh tỉnh Tuyên Quang. Nối gót người anh cả, hai người con thứ là Ma Doãn Dương và Ma Doãn Nghiêm cũng rèn luyện tài đức vẹn toàn, sau đều làm đến chức Chánh tổng, mang lại niềm vinh dự, tự hào vô bờ bến cho dòng họ.

Bên cạnh bà Ninh, hai người phụ nữ đức hạnh khác của vùng đất này là bà Ma Thị Thiều và La Thị Nội xã Thổ Bình, nay là xã Bình An cũng trải qua nỗi đau mất mát tương tự. Chồng hy sinh vì nước, hai bà đã nén lại bi thương, dùng sự kiên cường, bền bỉ của người phụ nữ Tuyên Quang để che chở, nuôi dạy con cháu trưởng thành nên người.

Ngồi trong nếp nhà truyền thống, bà Ma Thị Yểng thôn Nà Cọn, xã Bình An - người đang trực tiếp hương khói cho tấm sắc phong của bà La Thị Nội, bộc bạch những lời gan ruột: “Nhìn lên tấm mộc bản bọc vàng của tiền nhân truyền lại, dẫu cuộc sống hiện đại ngoài kia có nhiều cám dỗ và thay đổi, lớp hậu bối và đặc biệt là phụ nữ họ Ma Doãn chúng tôi vẫn luôn tự nhủ phải lấy chữ chung thủy, đảm đang làm trọng, sống sao cho trọn tình, trọn nghĩa với gia đình và quê hương”.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tống Đại Hồng, người đã tự tay tỉ mẩn sao chép và giải mã những dòng chữ Hán trên mộc bản nhận định bằng một niềm tự hào: “Việc Vua Khải Định đặc ân ban sắc phong mộc bản cho ba người phụ nữ chứng tỏ sức ảnh hưởng to lớn về đạo đức và nhân cách của họ. Đó như một lời khẳng định rằng, phụ nữ xứ Tuyên không chỉ đẹp về sắc vóc êm đềm, mà chính đức hy sinh, sự kiên cường của họ đã vang xa, tỏa sáng đến tận chốn kinh kỳ”.

Cuối tuần thảnh thơi nhấp ngụm trà nóng, ngẫm về ba tấm mộc bản khắc bốn chữ vàng “Tiết hạnh khả phong”, ta bỗng thấy lòng rưng rưng. Đó không chỉ là câu chuyện của quá khứ, mà là lời ca tụng muôn đời dành riêng cho vẻ đẹp dịu dàng nhưng vô cùng mạnh mẽ, kiên trinh của những đóa hoa rừng mang tên: Người con gái xứ Tuyên.

Giang Lam




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ