An Giang và bài toán biến lợi thế FTA thành năng lực cạnh tranh bền vững
FTA phải trở thành động lực tái cấu trúc nền kinh tế
UBND tỉnh An Giang vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Hệ sinh thái tận dụng các FTA giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở Quyết định số 1253/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 240/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ.
Điểm cốt lõi của kế hoạch không nằm ở việc An Giang có thêm bao nhiêu thị trường xuất khẩu, mà ở khả năng doanh nghiệp trong tỉnh có đủ năng lực để bước vào và đứng vững trong những thị trường đó hay không.

An Giang dựng “hệ sinh thái FTA”, xanh hóa đường ra thế giới.
Bởi trong thương mại thế hệ mới, ưu đãi thuế quan chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động, phát triển bền vững, năng lực logistics và khả năng đáp ứng ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.
Theo kế hoạch, mục tiêu chung là triển khai hiệu quả Hệ sinh thái tận dụng các FTA trên địa bàn; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, tổ chức hỗ trợ, cơ sở nghiên cứu, tổ chức tài chính và các chủ thể liên quan. Qua đó hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh nâng cao năng lực tận dụng FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.
Đến năm 2030, 100% sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp xã và các cơ quan, đơn vị liên quan được cung cấp thông tin, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ thuộc Hệ sinh thái tận dụng FTA. Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh được hỗ trợ tiếp cận thông tin về cam kết FTA, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, phòng vệ thương mại, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các quy định của thị trường xuất khẩu.
Đáng chú ý, tỉnh xác định lấy doanh nghiệp làm trung tâm, nhu cầu của doanh nghiệp làm cơ sở xây dựng và triển khai các hoạt động hỗ trợ; ưu tiên doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh có tiềm năng tham gia chuỗi giá trị và thị trường quốc tế.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Phong yêu cầu quá trình triển khai phải bảo đảm rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, tăng cường phối hợp liên ngành, sử dụng hiệu quả nguồn lực và kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Trường hợp vượt thẩm quyền, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải phản ánh về Sở Công Thương để tổng hợp, tham mưu UBND tỉnh xem xét hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa quyết định. Bởi nếu hội nhập chỉ dừng ở tuyên truyền về các FTA mà không tạo ra năng lực thực tế cho doanh nghiệp, lợi thế từ các hiệp định sẽ khó chuyển hóa thành giá trị gia tăng trong nền kinh tế địa phương.
Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn, mà là điều kiện giữ thị trường
Đối với An Giang, nơi có thế mạnh về lúa gạo, thủy sản, rau quả, trái cây và thực phẩm chế biến, chuyển đổi xanh càng không thể đứng ngoài chiến lược xuất khẩu.
Kế hoạch đã đặt nội dung này vào chính cấu trúc của hệ sinh thái FTA. Tỉnh hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong quản trị, sản xuất, kinh doanh, truy xuất nguồn gốc và quản lý chuỗi cung ứng; đồng thời nâng cao năng lực đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững thông qua sản xuất sạch hơn, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội của thị trường xuất khẩu.

An Giang biến lợi thế lúa gạo thành sức mạnh xuất khẩu xanh.
Điều đó cho thấy một nhận thức quan trọng: chuyển đổi xanh không còn chỉ là yêu cầu bảo vệ môi trường, mà đã trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh.
Một sản phẩm muốn bước sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu không thể chỉ chứng minh rằng nó được sản xuất với chi phí thấp. Sản phẩm còn phải chứng minh được nguồn gốc, quy trình sản xuất, mức độ sử dụng tài nguyên, khả năng giảm phát thải và sự tuân thủ các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu.
Vì vậy, An Giang định hướng hình thành các chuỗi liên kết từ sản xuất – chế biến – bảo quản – logistics – tiêu thụ đối với những ngành hàng có lợi thế như lúa gạo, thủy sản, rau quả, trái cây, thực phẩm chế biến và các sản phẩm công nghiệp chủ lực.
Cùng với đó, tỉnh khuyến khích phát triển logistics ứng dụng công nghệ số, kho bãi, kho lạnh, kho ngoại quan, vận tải đa phương thức và các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu; tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp logistics với doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu nhằm tối ưu chuỗi cung ứng, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chuyển đổi xanh được cụ thể hóa bằng việc khảo sát nhu cầu doanh nghiệp, phổ biến các quy định, tiêu chuẩn về môi trường, phát triển bền vững, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn và yêu cầu xanh của thị trường xuất khẩu. Giai đoạn 2027-2029, tỉnh triển khai các chương trình hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng các mô hình sản xuất bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và giảm phát thải phù hợp với điều kiện thực tế.
Đây chính là điểm giao giữa kinh tế và môi trường: tăng trưởng xuất khẩu phải đồng thời nâng chất lượng sản xuất và giảm chi phí môi trường.
Nếu không thay đổi phương thức sản xuất, những ưu đãi từ FTA có thể chỉ tạo ra tăng trưởng ngắn hạn, trong khi giá trị gia tăng ở lại thấp và áp lực lên tài nguyên, năng lượng, môi trường tiếp tục gia tăng.
Xây “hạ tầng mềm” để doanh nghiệp không đơn độc trên đường ra thế giới
Một nền kinh tế muốn tận dụng FTA không thể chỉ trông chờ vào từng doanh nghiệp tự xoay xở. Vì vậy, An Giang đang hướng tới xây dựng một lớp “hạ tầng mềm” gồm dữ liệu, thông tin thị trường, cảnh báo rủi ro, đào tạo, logistics và kết nối chuỗi.
Tỉnh sẽ rà soát, cập nhật và xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, hiệp hội ngành hàng, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức tài chính, tổ chức chứng nhận, logistics, thương mại điện tử và các chủ thể có khả năng tham gia hệ sinh thái.
Đây là nền tảng để chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp theo cách “có gì hỗ trợ đó” sang hỗ trợ dựa trên nhu cầu và dữ liệu thực tế.
Song song với dữ liệu là năng lực con người. Tỉnh tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tận dụng FTA cho doanh nghiệp và các chủ thể tham gia hệ sinh thái; cập nhật các quy định về TBT, SPS, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu của những thị trường xuất khẩu trọng điểm.
Một nội dung đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng phức tạp là phòng vệ thương mại, chống gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp.
An Giang sẽ thiết lập đầu mối tiếp nhận thông tin từ Bộ Công Thương; tổ chức tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn doanh nghiệp về quy định phòng vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, phòng chống gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.
Cách làm này có ý nghĩa như một “lá chắn” cho hàng hóa xuất khẩu. Khi một thị trường áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, doanh nghiệp không thể chỉ phản ứng sau khi vụ việc xảy ra. Năng lực cảnh báo sớm, quản trị dữ liệu xuất xứ và tuân thủ phải được hình thành ngay từ quá trình sản xuất.
Về lâu dài, tỉnh đặt mục tiêu kết nối và chia sẻ dữ liệu với Hệ sinh thái tận dụng FTA do Bộ Công Thương quản lý; đẩy mạnh ứng dụng nền tảng số trong quản lý, theo dõi, đánh giá và hỗ trợ doanh nghiệp.
Tầm nhìn đến năm 2035 cũng được đặt khá rõ: tiếp tục hoàn thiện, phát triển và vận hành hiệu quả Hệ sinh thái tận dụng FTA trên địa bàn; tăng cường kết nối với Hệ sinh thái FTA quốc gia; nâng năng lực tận dụng FTA của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, logistics, thương mại điện tử và đổi mới sáng tạo, nâng hiệu quả cảnh báo sớm và phòng vệ thương mại để phát triển xuất khẩu bền vững.
Nguồn lực thực hiện được xác định theo hướng huy động tổng hợp: ngân sách nhà nước theo phân cấp, lồng ghép với các chương trình, đề án liên quan, nguồn hỗ trợ của Trung ương, cùng nguồn lực từ doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức tài chính, tổ chức quốc tế và các nguồn vốn hợp pháp khác. Tỉnh cũng khuyến khích hợp tác công – tư trong phát triển logistics, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và đào tạo nguồn nhân lực.
Nhìn rộng hơn, Hệ sinh thái FTA mà An Giang đang xây dựng không đơn thuần là một chương trình hỗ trợ xuất khẩu. Đó là một phép thử đối với năng lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng của địa phương.

An Giang siết khai thác thủy sản, hướng đến biển xanh và sinh kế bền vững.
Bởi hội nhập sâu đồng nghĩa với việc những tiêu chuẩn của thị trường quốc tế ngày càng trở thành tiêu chuẩn của chính nền sản xuất trong nước. Quy tắc xuất xứ buộc doanh nghiệp phải minh bạch nguồn nguyên liệu; yêu cầu xanh buộc doanh nghiệp phải tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải; logistics buộc chuỗi sản xuất phải tổ chức lại; chuyển đổi số buộc doanh nghiệp phải thay đổi phương thức quản trị.
Nếu làm được, FTA sẽ không chỉ mang thêm đơn hàng về cho doanh nghiệp An Giang. FTA sẽ trở thành lực kéo để nền sản xuất chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang tăng trưởng dựa vào chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Đó cũng là điểm cốt lõi của phát triển bền vững: không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, mà biến yêu cầu bảo vệ môi trường thành một phần của năng lực cạnh tranh và giá trị kinh tế.
Với định hướng đến năm 2035, An Giang đang đặt mục tiêu biến hội nhập từ một cơ hội thương mại thành động lực đổi mới mô hình tăng trưởng, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, dữ liệu là hạ tầng, chuyển đổi xanh là điều kiện cạnh tranh và liên kết chuỗi là nền tảng để hàng hóa địa phương đi xa hơn trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Thanh Xuân
2 giờ trước
1 ngày trước
43 phút trước
4 giờ trước
22 phút trước
48 phút trước
12 phút trước
16 phút trước
31 phút trước
42 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước