🔍
Chuyên mục: Giáo dục

65 năm thảm họa da cam: Tiếp nối công lý, sẻ chia nỗi đau

1 giờ trước
Sáu mươi lăm năm sau ngày quân đội Mỹ bắt đầu phun rải chất độc hóa học xuống Việt Nam, hậu quả của thảm họa da cam vẫn hiện diện trong nhiều gia đình, kéo dài từ người trực tiếp đi qua chiến tranh đến các thế hệ con, cháu.

Hành trình đi tìm công lý vì thế không chỉ diễn ra tại các tòa án quốc tế mà còn cần được tiếp tục bằng những chính sách đủ đầy hơn, để những người sinh ra trong hòa bình không bị bỏ lại với hậu quả của cuộc chiến mình chưa từng trải qua.

Vượt lên số phận, chàng trai khuyết tật Đỗ Hà Cừ (phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên) đã xây dựng một không gian đọc đặc biệt với tên gọi “Hy vọng”, để kết nối và lan tỏa niềm đam mê đọc sách đến nhiều bạn trẻ. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

Nỗi đau không dừng ở một thế hệ

“Mong sao con sẽ ra đi trước. Bởi nếu bố mẹ mất rồi, ai sẽ chăm sóc con đây?” Đó là nỗi niềm mà vợ chồng cựu chiến binh Đỗ Đức Địu (xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị) từng nghĩ đến khi nhìn những người con mang bệnh tật, khuyết tật sống phụ thuộc vào mình. Một ước mong trái với lẽ tự nhiên nhưng lại được sinh ra từ nỗi sợ rất thật của những cha mẹ đã gần đi hết cuộc đời.

Ông Địu từng chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị và bị nhiễm chất độc da cam. Sau chiến tranh, vợ chồng ông sinh 15 người con. Mười hai người mất ngay khi mới lọt lòng hoặc chỉ sống được vài năm. Ba người con còn lại cũng chịu ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe. Có người nằm một chỗ, mọi sinh hoạt đều cần bố mẹ giúp đỡ. Nhiều năm qua, điều khiến ông Địu day dứt không chỉ là những người con đã mất mà còn là tương lai của người đang sống. Thời chiến, ông từng nghĩ mình không sợ điều gì. Không sợ bom đạn, không sợ hy sinh. Nhưng khi hòa bình trở lại, chứng kiến các con lần lượt mang bệnh tật rồi rời khỏi cuộc đời, người lính năm xưa mới hiểu thế nào là sợ hãi.

Tại xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội, gia đình ông Cao Khánh Hòa cũng mang nỗi lo của nhiều gia đình nạn nhân chất độc da cam. Ông Hòa từng tham gia kháng chiến và bị nhiễm chất độc hóa học. Hai người con của ông được xác định là nạn nhân chất độc da cam; đến thế hệ cháu, Cao Minh Quang bị chậm phát triển trí tuệ, mắc bệnh tim bẩm sinh, không thể tự lập và chỉ hưởng trợ cấp dành cho người khuyết tật. Điều gia đình trăn trở nhất là ai sẽ chăm sóc Quang khi người thân không còn đủ sức khỏe.

Gia đình ông Địu, ông Hòa nằm trong số hàng triệu gia đình Việt Nam chịu hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học kéo dài từ năm 1961 đến năm 1971. Trong khoảng thời gian đó, quân đội Mỹ tiến hành gần 20.000 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học xuống miền Nam Việt Nam, trong đó chất độc da cam chiếm khoảng 61%. Hơn 3 triệu ha đất đai, rừng và khu dân cư bị ảnh hưởng. Khoảng 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, hơn 3 triệu người được xác định là nạn nhân.

Nhưng những con số ấy mới chỉ phản ánh một phần của thảm họa. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước có khoảng 75.000 nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai, 35.000 người thuộc thế hệ thứ ba; khảo sát tại một số địa phương cho thấy những biểu hiện được cho là liên quan đến di chứng đã xuất hiện ở thế hệ thứ tư.

Khoảng trống cần được lấp đầy

Trong ba người con còn lại của ông Đỗ Đức Địu có chị Đỗ Thị Hằng. Khi chào đời, Hằng bị liệt nửa người, nằm bất động, mọi sinh hoạt đều phụ thuộc vào bố mẹ, có thời điểm bác sĩ từng khuyên gia đình chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Vợ chồng ông Địu đã bán những gì có thể bán, cầm cố giấy tờ nhà đất và khoản lương hưu ít ỏi để giành lại sự sống cho con sau gần chục ca phẫu thuật.

Từng oán trách số phận nhưng lớn lên Hằng hiểu những vết thương mình mang cũng là nỗi đau suốt đời của cha mẹ. Với mong muốn làm được những việc có ích, Hằng mày mò học làm bưu thiếp thủ công để bán và dự định học bán hàng trực tuyến để kiếm thêm thu nhập, làm bố mẹ yên lòng.

Đỗ Hà Cừ (thành phố Thái Bình) cũng mang di chứng chất độc da cam. Cơ thể co quắp, việc đi lại và mọi sinh hoạt đều phải nhờ mẹ chăm sóc. Không thể đến trường, Cừ nằng nặc xin mẹ dạy chữ vì muốn tự mình đọc sách. Suốt hai năm, người mẹ kiên nhẫn đọc từng bài thơ, viết từng con chữ để con ghi nhớ. Từ những trang sách đầu đời ấy, tình yêu đọc sách lớn dần, giúp Cừ vượt qua mặc cảm và tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.

Từ tình yêu sách, năm 2015, Cừ thành lập "Không gian đọc Hy vọng", phát triển tủ sách hơn 4.000 đầu sách và truyền cảm hứng để nhiều người khuyết tật xây dựng những không gian đọc tương tự. Những nỗ lực ấy đã giúp anh nhận nhiều giải thưởng về phát triển văn hóa đọc và hoạt động tình nguyện; được trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

Tương tự, Nguyễn Đức, người em trong cặp song sinh Việt - Đức cũng lựa chọn cách biến nỗi đau thành trách nhiệm. Sau ca phẫu thuật tách rời lịch sử năm 1988 và hơn mười ca phẫu thuật lớn, nhỏ, Nguyễn Đức trở lại làm việc tại Làng Hòa Bình (Bệnh viện Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh) nơi anh từng được chăm sóc để hỗ trợ những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn. Hơn 50 lần đến Nhật Bản, anh kể câu chuyện của mình với học sinh, sinh viên và bạn bè quốc tế, truyền đi thông điệp về hòa bình và trách nhiệm gìn giữ hòa bình.

Những câu chuyện ấy cho thấy nạn nhân chất độc da cam không chỉ cần trợ cấp, khi được phục hồi chức năng, học nghề và tạo việc làm phù hợp, họ vẫn có thể lao động, cống hiến và hòa nhập cộng đồng.

Đó cũng là tinh thần của đề xuất xây dựng “Làng Cam” tại Thành phố Hồ Chí Minh, với ba nhóm hoạt động gồm chăm sóc sức khỏe; giáo dục, đào tạo nghề; tổ chức sản xuất và tạo việc làm. Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở việc tập hợp nhiều hình thức hỗ trợ trong cùng một không gian. Quan trọng hơn, nó thể hiện sự chuyển đổi trong cách nhìn: Từ chăm sóc để nạn nhân tồn tại sang trao cơ hội để họ phát triển; từ nhìn họ qua những gì đã mất sang ghi nhận những gì họ vẫn có thể làm.

Tuy nhiên, không phải nạn nhân nào cũng có khả năng học tập, lao động hay tự lập. Nhiều người cần được chăm sóc suốt đời, trong khi nhiều gia đình có hai, ba thế hệ cùng mang bệnh tật. Với họ, trợ cấp hằng tháng chỉ giải quyết một phần khó khăn. Theo quy định hiện hành, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ đủ điều kiện được hưởng chính sách ưu đãi người có công; trong khi thế hệ cháu chủ yếu được hỗ trợ theo chính sách bảo trợ xã hội nếu được xác định là người khuyết tật. Khác biệt này phản ánh cách tiếp cận của từng chính sách nhưng đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu để đánh giá đầy đủ tác động của chất độc da cam qua nhiều thế hệ.

Theo Trung tướng Nguyễn Hữu Chính, Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, cần xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ về nạn nhân qua các thế hệ làm căn cứ nghiên cứu, hoàn thiện chính sách. Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu tiêu chí giám định y khoa, xác định danh mục bệnh, tật liên quan và kết nối dữ liệu liên thế hệ nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách khách quan, minh bạch.

Cùng với việc hoàn thiện chính sách, nhiều ý kiến cho rằng cần phát triển hệ thống chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, giáo dục, đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm và sinh kế cho người còn khả năng lao động. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ những người trực tiếp chăm sóc nạn nhân, bởi họ đang gánh vác công việc kéo dài nhiều năm nhưng hầu như chưa được bảo đảm đầy đủ về sinh kế và an sinh.

Những bước đi từ thực tiễn

Trong khi chờ một chính sách thống nhất trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã có những bước đi ban đầu nhằm hỗ trợ nhóm nạn nhân thuộc thế hệ thứ ba, thứ tư chưa thuộc diện hưởng chính sách chung. Địa phương triển khai hỗ trợ hằng tháng đối với một số trường hợp người khuyết tật bẩm sinh có cha hoặc mẹ là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, đồng thời hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Quy mô hỗ trợ chưa thể giải quyết toàn bộ khó khăn nhưng cho thấy khoảng trống chính sách có thể được nhận diện và từng bước lấp đầy từ thực tiễn địa phương. Đây cũng là cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện chính sách trên phạm vi cả nước, bảo đảm phù hợp với nhu cầu của các thế hệ nạn nhân chất độc da cam.

Bà Trần Tố Nga - cựu phóng viên chiến trường của TTXVN, nguyên đơn trong vụ kiện chống lại các công ty hóa chất Mỹ, trao đổi với phóng viên TTXVN bên lề cuộc họp báo ngày 11/6/2026 tại Thượng viện Pháp. Ảnh: Hữu Chiến/PV TTXVN tại Pháp

Ở tuổi ngoài 80, bà Trần Tố Nga vẫn kiên trì theo đuổi vụ kiện các tập đoàn hóa chất từng sản xuất chất khai quang được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Việc Tòa Phá án Pháp quyết định chuyển hồ sơ vụ kiện lên cấp xét xử cao nhất cho thấy câu chuyện về trách nhiệm đối với hậu quả chất độc da cam vẫn tiếp tục được đặt ra trước pháp luật và lương tri quốc tế.

Nhưng với hàng triệu gia đình nạn nhân, công lý không chỉ nằm ở phán quyết của một tòa án. Công lý còn được thể hiện ở những chính sách giúp người bệnh được điều trị, người khuyết tật có cơ hội học tập, lao động, người chăm sóc được sẻ chia gánh nặng và các thế hệ bị ảnh hưởng được nhận diện, hỗ trợ đúng đối tượng.

Sáu mươi lăm năm trước, chất độc hóa học được phun rải nhằm hủy hoại rừng, đất đai và sự sống. Sáu mươi lăm năm sau, hậu quả của nó trở thành một phép thử đối với lương tri, năng lực chính sách và trách nhiệm của xã hội.

Chiến tranh có thể kết thúc bằng một hiệp định hoặc một ngày toàn thắng. Nhưng hậu quả chiến tranh chỉ thực sự được khép lại khi đất đai được làm sạch, nạn nhân được chăm sóc, công lý được tiếp tục theo đuổi và ký ức được trao lại cho những người sinh ra trong hòa bình.

Minh Huệ (TTXVN )

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ