🔍
Chuyên mục: Xã hội

6 trường hợp người lao động được xem là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp

2 ngày trước
Từ năm 2026, chính sách về bảo hiểm thất nghiệp đã bổ sung, nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại các đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp, thì vẫn được tính là đang tham gia để đảm bảo quyền lợi cho người lao động...

Lao động làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Ảnh: Nhật Dương.

Từ ngày 1/1/2026, việc quy định các trường hợp người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa việc xác định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp, nhưng làm rõ và đầy đủ hơn các trường hợp được tính là đang tham gia bảo hiểm.

Ngoài các trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ở tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước đó, nghỉ ốm đau, thai sản, nghỉ không lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày trở lên trong tháng, Nghị định 374/2025/NĐ-CP bổ sung, nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Quy định này được đánh giá là giúp khép kín “khoảng trống pháp lý” trong bối cảnh một số doanh nghiệp đột ngột ngừng hoạt động, phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, song người lao động vẫn được bảo vệ quyền lợi khi đề nghị giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Như vậy, theo quy định mới, có 6 trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm:

Một là, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật, và được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

Hai là, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

Ba là, người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc, mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị, và được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

Bốn là, người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị, và được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

Năm là, người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị; được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

Sáu là, người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Về mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, quy định mới vẫn giữ mức đóng 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động, nhưng phân định rất rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP xác định trường hợp cơ quan, đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, thì phần đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng do ngân sách nhà nước đảm bảo, được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm.

Đối với doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ; các cơ quan, tổ chức khác sử dụng nguồn kinh phí hoạt động để đóng.

Đáng chú ý, Nghị định 374/2025/NĐ-CP lần đầu tiên thiết lập một cơ chế hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ ngân sách nhà nước với nguyên tắc cụ thể. Theo đó, ngân sách trung ương có thể hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia, nhằm bảo đảm duy trì số dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi chế độ và chi phí tổ chức thực hiện của năm trước liền kề.

Đồng thời, Nghị định quy định rõ phương thức chuyển kinh phí hỗ trợ, thời điểm xác định dự toán, thẩm định của Bộ Tài chính, cơ chế hoàn trả phần chênh lệch nếu số cấp cao hơn số phải hỗ trợ, hoặc bổ sung nếu số cấp thấp hơn nhu cầu.

Nhật Dương

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ