50 năm thành phố mang tên Bác: Từ 'phép thử' Tân Thuận đến khát vọng siêu đô thị tầm châu Á
Năm 1991, khi Việt Nam vẫn còn thận trọng trong những bước đi đầu tiên của nền kinh tế thị trường, TP.HCM đã chọn một cách tiếp cận khác: không chờ cơ chế hoàn thiện mà chủ động tạo ra cơ chế. Thành phố bắt tay với nhà đầu tư đến từ Đài Loan (Trung Quốc) để xây dựng Khu chế xuất Tân Thuận - mô hình gần như chưa từng có ở Việt Nam lúc bấy giờ, với hạ tầng đồng bộ, cơ chế "một cửa", sản xuất hướng xuất khẩu và tư duy hội nhập ngay từ khi còn trên bản vẽ.
Đó không chỉ là sự ra đời của một khu chế xuất, mà là một cuộc thử nghiệm về cách phát triển trong thời kỳ đổi mới. Trên vùng đầm lầy hoang hóa phía Nam thành phố, Công ty TNHH MTV Phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC) cùng Tập đoàn Central Trading & Development Group đã biến một khu vực gần như không có giá trị kinh tế thành một cực tăng trưởng mới. Mục tiêu của dự án không chỉ là thu hút vốn đầu tư trước tiếp nước ngoài (FDI), công nghệ và ngoại tệ, mà còn kiểm chứng một tư duy táo bạo: nếu có thể chế đủ thông thoáng và hạ tầng đủ tốt, dòng vốn quốc tế sẽ tự tìm đến.
Bản lĩnh của dòng chảy không chờ 'sóng'
Trên diện tích gần 300ha với tổng vốn đầu tư khoảng 80 triệu USD, Khu chế xuất Tân Thuận chính thức đi vào hoạt động năm 1991. Chỉ sau năm năm, hơn 100 doanh nghiệp đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan... đã chọn nơi đây làm cứ điểm sản xuất. Những ngành như dệt may, điện tử, cơ khí nhẹ hay linh kiện tuy còn ở nấc thang đầu của chuỗi giá trị, nhưng lại đặt những viên gạch đầu tiên cho quá trình công nghiệp hóa và hội nhập của TP.HCM.
Hơn 35 năm sau, vùng đất từng chỉ có lau sậy và bùn lầy đã trở thành một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Hiện khu chế xuất Tân Thuận hiện thu hút 254 nhà đầu tư đến từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký khoảng 2,1 tỷ USD, trong đó vốn FDI chiếm khoảng 1,6 tỷ USD. Hơn 60.000 lao động đang làm việc tại đây, tạo ra kim ngạch xuất nhập khẩu khoảng 2 tỷ USD mỗi năm.
Nhưng thành công lớn nhất của khu chế xuất Tân Thuận không chỉ là những con số mà là bài học: muốn thu hút dòng vốn, trước hết phải tạo ra một dòng chảy thể chế đủ thông suốt và TP.HCM suốt nhiều thập niên qua không đợi "sóng" của thời cuộc, mà chủ động tạo ra con nước mới để đi trước.
Thành công của khu chế xuất Tân Thuận nhanh chóng tạo hiệu ứng lan tỏa. Các khu chế xuất Linh Trung, khu công nghiệp Tân Bình cùng hàng loạt khu công nghiệp trên khắp vùng Đông Nam Bộ lần lượt ra đời, đưa TP.HCM trở thành trung tâm công nghiệp và xuất khẩu lớn nhất cả nước trong nhiều năm. Đó cũng là điểm khởi đầu của một chu kỳ tăng trưởng mới. Công nghiệp hóa không chỉ tạo ra nhà máy và việc làm, mà còn tái định hình không gian phát triển. Dòng vốn đầu tư mở đến đâu, hạ tầng vươn theo đến đó; khu công nghiệp hình thành ở đâu, đô thị mở rộng đến đó.
Nửa thế kỷ sau, TP.HCM đã lột xác từ một đô thị với hạ tầng chật hẹp sau chiến tranh thành một siêu đô thị hiện đại. Đại lộ Võ Văn Kiệt, hầm Thủ Thiêm, cầu Phú Mỹ, cầu Sài Gòn 2, các tuyến cao tốc, metro số 1 cùng mạng lưới vành đai liên vùng từng bước hoàn thiện, trong khi Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn và Vạn Phúc đã mở rộng đường chân trời, định hình diện mạo của một đô thị đa trung tâm và đầu tàu tăng trưởng của cả vùng phía Nam.
Bước sang năm 2026, đúng dịp tròn nửa thế kỷ vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố đứng trước cột mốc lịch sử mới. Hành trình bắt đầu khi vào tháng 5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW, xác lập tầm nhìn đưa TP.HCM trở thành trung tâm tài chính quốc tế, đô thị dẫn dắt châu Á vào năm 2045, với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10% mỗi năm, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 75.000 USD và chỉ số phát triển con người từ 0,9 trở lên.
Nếu 50 năm trước là hành trình khôi phục, kiến thiết và vươn lên trở thành đầu tàu kinh tế cả nước, thì chặng đường phía trước là cuộc bứt phá để bước vào nhóm những đô thị hàng đầu châu Á.
Theo ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao Chứng khoán KIS Việt Nam, sau khi hợp nhất Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu, TP.HCM không đơn thuần là một đô thị lớn hơn về quy mô, mà là "một cơ thể mới" với cấu trúc kinh tế hoàn chỉnh hơn và nhiều động lực tăng trưởng bổ trợ lẫn nhau. Trong cấu trúc ấy, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp xanh sẽ trở thành trụ cột quan trọng nhất, dự kiến đóng góp khoảng 33-35% GRDP.
"Các khu công nghiệp sẽ không còn cạnh tranh bằng quỹ đất hay lao động giá rẻ, mà được tái cấu trúc theo mô hình thông minh, xanh, tuần hoàn và số hóa, hướng tới thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao cùng những ngành có giá trị gia tăng lớn", ông nói.
Động lực tăng trưởng thứ hai đến từ kinh tế biển và logistics. Với chuỗi hạ tầng chiến lược gồm cảng Cái Mép - Thị Vải, cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, sân bay Long Thành và mạng lưới logistics liên vùng, TP.HCM tiếp tục khẳng định vị thế là cửa ngõ giao thương của khu vực.
"Việc nghiên cứu các tuyến đường sắt kết nối trực tiếp khu công nghiệp với cảng biển được kỳ vọng sẽ giảm mạnh chi phí logistics, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế", ông đánh giá.
Bên cạnh đó, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp văn hóa, trung tâm tài chính quốc tế tại Thủ Thiêm, cùng hệ sinh thái y tế, giáo dục và khoa học - công nghệ sẽ tạo nên những cực tăng trưởng mới. Nếu công nghiệp là động cơ của nền kinh tế, thì các lĩnh vực này sẽ là những bánh đà tạo giá trị gia tăng, giúp TP.HCM chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào sản xuất sang nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao. Đây cũng là nền tảng để siêu đô thị mới hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế và tài chính có sức cạnh tranh hàng đầu châu Á trong những thập niên tới.
Trong khi đó, ông Nguyễn Nguyên Phương, Phó giám đốc Sở Công thương TP.HCM, cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm tài chính quốc tế, thành phố không chỉ cần những tòa tháp hay dòng vốn đầu tư, mà còn cần những thiết chế thị trường hiện đại.
Theo ông, TP.HCM đang lựa chọn hai trụ cột là tài chính xanh và sàn giao dịch hàng hóa. Việc xây dựng sàn giao dịch thịt heo không chỉ nhằm minh bạch hóa thị trường, mà còn là phép thử cho một mô hình thương mại mới, nơi giá trị được xác lập bằng dữ liệu, tiêu chuẩn và niềm tin, thay vì chỉ dựa trên cung - cầu tức thời.

TP.HCM từng bước hình thành mạng lưới giao thông hiện đại. Ảnh minh họa: Hoàng Anh.
Nhìn lại 50 năm phát triển, ông Nguyễn Nguyên Phương nhận thấy thương mại TP.HCM vận động theo những chu kỳ đứt nối nhưng liên tục tái sinh. Mỗi giai đoạn đều bắt đầu từ một áp lực: sau chiến tranh, trong cơ chế bao cấp, khi mở cửa hội nhập, rồi đến chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Nhưng chính trong những giai đoạn nhiều biến động nhất, thành phố lại thể hiện rõ bản lĩnh của một đầu tàu kinh tế: không chờ điều kiện thuận lợi, mà tự tạo ra động lực để đi tiếp.
“TP.HCM luôn tìm ra những giải pháp mang tính đột phá, những cách làm sáng tạo để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tạo động lực mới cho thương mại phát triển”, ông Phương nói.
Theo ông, điều làm nên khác biệt không nằm ở từng chính sách riêng lẻ, mà ở cách một hệ sinh thái cùng vận hành. Chính quyền, cơ quan tham mưu và cộng đồng doanh nghiệp cùng thử nghiệm, cùng chịu trách nhiệm và cùng tìm lời giải cho những bài toán chưa có tiền lệ. Chính tinh thần đó tạo nên một bản sắc phát triển rất riêng của TP.HCM trong suốt nửa thế kỷ.
Muốn xây dựng siêu đô thị sáng tạo, TP.HCM phải giữ được người sáng tạo
Ở giai đoạn phát triển mới, theo các chuyên gia, TP.HCM vẫn cần phải gỡ những điểm nghẽn, tạo cơ chế thông thoáng hơn nữa mới có thể hoàn thành những chỉ tiêu mà Nghị quyết số 09-NQ/TW đề ra.
Tiến sĩ Phạm Thái Sơn, giảng viên Trường đại học Việt Đức đánh giá, trong nhiều năm qua, các cuộc thảo luận về phát triển TP.HCM chủ yếu xoay quanh hạ tầng giao thông, cải cách hành chính, cơ chế đặc thù hay ưu đãi đầu tư. Đó đều là những yếu tố quan trọng, nhưng theo ông, vẫn còn thiếu một mảnh ghép cốt lõi là quy hoạch đô thị phải được thiết kế để hấp dẫn con người sáng tạo, chứ không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất.
Theo ông Sơn, tầng lớp sáng tạo ở TP.HCM vẫn còn rất mỏng và nếu nhìn kỹ vào cấu trúc lao động hiện nay, khoảng trống này hiện lên rõ rệt như một cảnh báo dài hạn hơn là một chỉ số thống kê đơn thuần.
Hiện nay, lực lượng lao động qua đào tạo từ ba tháng trở lên chỉ vào khoảng 30%, nghĩa là phần lớn vẫn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo chính quy. Ở tầng cao hơn, nhóm lao động giữ vị trí lãnh đạo hoặc kỹ thuật chất lượng cao cũng chỉ chiếm khoảng 20%, một con số cho thấy nguồn cung nhân lực cho các ngành công nghệ mới vẫn còn hạn chế. Đáng chú ý hơn, tầng lớp sáng tạo hiện chỉ khoảng 770.000 người, tương đương 5 - 6% tổng lực lượng lao động, thấp hơn rất xa so với các đô thị phát triển, nơi tỷ lệ này thường vượt 30%.
Không chỉ yếu về quy mô, tầng lớp sáng tạo của TP.HCM còn bị “co cụm” về không gian. Họ chủ yếu tập trung ở khu trung tâm, các khu đại học hoặc khu công nghệ cao, trong khi phần lớn đô thị còn lại chưa đủ sức hấp dẫn để giữ chân hay thu hút.
Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở số lượng. Một trong những điểm nghẽn lớn của chính sách thu hút nhân tài hiện nay là đang nhìn quá hẹp vào “giờ làm việc”. Thành phố nói nhiều về lương, vị trí, cơ chế tuyển dụng hay ưu đãi hành chính trong 8 giờ công sở. Trong khi đó, 16 giờ còn lại, phần quyết định chất lượng sống, cần được quan tâm đúng mức.
Người làm sáng tạo không chỉ chọn nơi làm việc, họ chọn nơi để sống. Một kỹ sư AI, một nhà thiết kế vi mạch hay một nhà nghiên cứu sinh học không chỉ cân nhắc hợp đồng lao động, mà còn tự hỏi: có phải mất hai giờ mỗi ngày để kẹt xe giữa khói bụi? Con cái họ học ở đâu, có được tiếp cận môi trường giáo dục tốt hay không? Cuối tuần có công viên, thư viện, bảo tàng hay không gian nghệ thuật để tái tạo năng lượng sáng tạo?
Khi những câu hỏi ấy chưa được trả lời thỏa đáng, lợi thế cạnh tranh về nhân lực chất lượng cao sẽ luôn bị bào mòn.

TP.HCM cần nhiều cơ chế có độ "mở" hơn để phát triển. Ảnh: Hoàng Anh.
Cũng theo chuyên gia này, nhìn từ tháp nhu cầu Maslow, nhiều điểm nghẽn của TP.HCM vẫn còn như ngập nước sau mưa lớn và triều cường; ùn tắc giao thông kéo dài làm hao mòn thời gian và năng lượng sống. Một đô thị chưa bảo đảm tốt các nhu cầu an toàn và an sinh cơ bản thì rất khó trở thành điểm đến hấp dẫn của tầng lớp sáng tạo, những người luôn có lựa chọn giữa TP.HCM và các đô thị như Singapore, Seoul, Bangkok hay Kuala Lumpur.
Ở tầm nhìn vĩ mô hơn, TS Nguyễn Đình Phúc, Trưởng Khoa Lãnh đạo học và hành chính công, Học viện Chính trị khu vực II, đánh giá, TP.HCM được kỳ vọng cạnh tranh trực diện với các trung tâm toàn cầu như Singapore, Hong Kong hay Dubai, nhưng lại bị giới hạn trong bộ công cụ quản trị của một đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 đã mở rộng nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư, tài chính - ngân sách, quản lý đô thị, thu hút nhà đầu tư chiến lược, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tổ chức bộ máy.
Tuy nhiên, ông Phúc chỉ ra những thách thức thành phố cần hóa giải như thành phố phải gánh vác những lĩnh vực vượt xa mô hình quản lý truyền thống như bán dẫn, kinh tế dữ liệu nên phản ứng chính sách phải bắt nhịp thị trường.
Bên cạnh đó, đầu tư công vẫn giải ngân chậm, phản ánh một quy trình chuẩn bị dự án còn nhiều tầng nấc, làm tăng rủi ro chất lượng thay vì tối ưu hiệu quả.
Ông Phúc cũng chỉ ra thực tế khu vực tư nhân và hệ sinh thái khởi nghiệp đã vươn lên mạnh mẽ, nhưng khung pháp lý cho tài sản số, blockchain hay các mô hình tài chính mới vẫn còn manh mún, chưa hình thành hệ sinh thái đồng bộ.
Ngoài ra, số doanh nghiệp khoa học - công nghệ còn khiêm tốn, và đặc biệt là sự thiếu hụt nhân lực thiết kế thượng nguồn trong ngành bán dẫn, khiến chuỗi giá trị vẫn dừng ở các công đoạn gia công.
Và cuối cùng, các chỉ số như cải cách hành chính cải thiện mạnh, nhưng chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức có dấu hiệu chững lại và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh vẫn ở mức trung bình - thấp.
Để gỡ điểm nghẽn, ông Phúc đề xuất ba mũi khoan thể chế để giải phóng năng lực phát triển.
Trước hếtlà Luật Đô thị đặc biệt theo nghĩa thực quyền, không chỉ dừng ở quản lý hành chính mà phải trao quyền lập quy có kiểm soát, giúp thành phố chủ động phản ứng nhanh với các lĩnh vực biến động mạnh như kinh tế số, tài chính đô thị và chuyển đổi xanh.
Tiếp theo là kiến trúc sandbox tài chính số phân tầng, với các mức độ từ fintech ngân hàng truyền thống, đến tài sản số - blockchain trong khu chuyên biệt, và mở rộng sang sandbox liên ngành. Đây phải là không gian thử nghiệm có kiểm soát nhưng đủ rộng để khơi thông đổi mới.
Cuối cùng là mô hình quản trị số dựa trên dữ liệu và kết quả, trong đó các lõi dữ liệu về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, đầu tư công và an sinh xã hội được liên thông theo thời gian thực, tích hợp thành bảng điều hành công khai, biến quản trị từ “hồ sơ” sang “dữ liệu”, từ “quy trình” sang “kết quả”.
Theo chuyên gia này, ở tầm nhìn dài hạn, chỉ khi tháo được ba nút thắt thể chế này, TP.HCM mới thực sự chuyển từ một siêu đô thị đang tăng trưởng nhanh sang một trung tâm cạnh tranh tầm châu Á đúng nghĩa vào năm 2045.
Trở lại câu chuyện của khu chế xuất Tân Thuận, giá trị lớn nhất của "dự án mở đường" này hiện nay không còn được đo bằng tỷ lệ lấp đầy hay số lượng doanh nghiệp FDI, mà bằng khả năng tự chuyển mình trong một kỷ nguyên mới. Nếu ba thập niên trước, khu chế xuất này chứng minh rằng thể chế thông thoáng có thể thu hút dòng vốn quốc tế, thì thước đo thành công sắp tới sẽ là năng lực hấp dẫn công nghệ nguồn, trung tâm R&D, sản xuất thông minh và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Đó cũng là phép thử cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của TP.HCM. Bởi, trong chặng đường hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm tài chính, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á, điều thành phố cần không chỉ là thêm những khu công nghiệp, mà là những cực tăng trưởng có khả năng tạo ra công nghệ, giá trị và sức cạnh tranh toàn cầu.
An Nhiên
2 ngày trước
9 ngày trước
12 ngày trước
27 ngày trước
28 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
21 phút trước
10 phút trước
9 phút trước
1 giờ trước
4 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
16 phút trước
18 phút trước