🔍
Chuyên mục: Thời sự

29 Luật quan trọng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

2 giờ trước
Từ 1/7/2026, nhiều luật quan trọng sẽ có hiệu lực thi hành.

29 Luật quan trọng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Đó là: Luật Báo chí 2025; Luật Thủ đô 2026; Luật Thương mại điện tử 2025; Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025; Luật Quản lý thuế 2025; Luật Chuyển đổi số 2025; Luật Dự trữ quốc gia 2025; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí 2025; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025; Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài 2026; Luật An ninh mạng 2025; Luật Công nghệ cao 2025; Luật Phòng bệnh 2025; Luật Tình trạng khẩn cấp 2025; Luật Xây dựng 2025; Luật Viên chức 2025; Luật Dân số 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự 2025; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025; Luật Phòng, chống ma túy 2025; Luật Thi hành án hình sự 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật Thi hành án dân sự 2025; Luật Dẫn độ 2025; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025.

Mở rộng không gian hoạt động cho các cơ quan báo chí
Luật Báo chí năm 2025 gồm 4 Chương, 51 Điều (giảm 2 Chương, 10 Điều so với Luật Báo chí năm 2016) với nhiều nội dung mới.
Luật bổ sung quy định về vị trí của báo chí: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là báo chí cách mạng...” để khẳng định tính lịch sử, tính cách mạng của báo chí, xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; bổ sung quy định về quyền yêu cầu cải chính trên báo chí của công dân, đảm bảo quyền tự do báo chí của công dân quy định trong Hiến pháp.
Đáng chú ý, Luật quy định các nguyên tắc về mô hình hoạt động, kinh tế báo chí, mở rộng không gian hoạt động của báo chí để phát triển báo chí trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu thông tin, tuyên truyền trong kỷ nguyên mới.
Luật bổ sung các quy định: Cơ quan báo chí chủ lực địa phương có nhiều loại hình báo chí, cơ quan báo chí trực thuộc; có cơ chế đặc thù về tài chính; được thành lập phù hợp với Chiến lược phát triển và quản lý hệ thống thông tin báo chí được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ quan báo và phát thanh, truyền hình thuộc tỉnh/thành ủy, có nhiều loại hình báo chí, sản phẩm báo chí. Cơ quan tạp chí khoa học được xuất bản nhiều tạp chí khoa học, góp phần đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Luật Báo chí 2025 đã mở rộng không gian hoạt động cho cơ quan báo chí, đó là việc xuất bản báo chí trên không gian mạng. Luật quy định, kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng, nội dung báo chí hoàn chỉnh của nền tảng số báo chí quốc gia là sản phẩm báo chí; bổ sung quy định Nhà nước đầu tư nền tảng số báo chí quốc gia, hạ tầng dữ liệu báo chí số và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số báo chí để thúc đẩy chuyển đổi số báo chí; cơ quan báo chí ngoài đăng, phát nội dung báo chí còn được tích hợp hoạt động dịch vụ trực tuyến trên báo chí và giao Chính phủ quy định chi tiết.
Đồng thời, Luật bổ sung quy định cơ quan báo chí được liên kết sản xuất nội dung, trừ nội dung về thời sự chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại; giao Chính phủ quy định chi tiết về liên kết trong hoạt động báo chí, minh bạch trách nhiệm, quyền lợi của các bên khi tham gia liên kết để thúc đẩy phát triển báo chí.
Luật quy định đầy đủ các phương thức Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và hỗ trợ cước vận chuyển, chi phí đăng tải, truyền dẫn, phát sóng để báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, truyền thông chính sách, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Luật bổ sung quy định về nguồn thu mới của cơ quan báo chí, gồm từ: Bản quyền đọc, nghe, xem và cho phép khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí; hoạt động tài chính và phần vốn góp vào doanh nghiệp (nếu có); cung cấp dịch vụ sự nghiệp công được giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu; thực hiện nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án do cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt; người có nhu cầu đăng bài nghiên cứu khoa học...
Liên quan đến sửa đổi, bổ sung quy định về kỳ hạn thẻ nhà báo, Luật quy định thời hạn sử dụng thẻ nhà báo là 5 năm tính từ ngày cấp thẻ và được ghi trên thẻ. Hết thời hạn sử dụng thẻ nhà báo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xét cấp đổi thẻ nhà báo.
Ngoài ra, Luật Báo chí quy định quản lý chặt chẽ hoạt động báo chí, đảm bảo hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về báo chí như: Sửa đổi quy định tên gọi 4 loại hình báo chí (gồm: báo chí in, báo chí điện tử, phát thanh, truyền hình); bổ sung khái niệm tạp chí (để phân biệt rõ báo, tạp chí, chống “báo hóa” tạp chí); xuất bản báo chí trên không gian mạng; bổ sung một hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến hoạt động thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó Luật bổ sung quy định đối với: Hội Nhà báo Việt Nam; điều kiện cấp giấy phép hoạt động báo chí đối với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; quy định thu hồi giấy phép hoạt động của cơ quan báo chí; quy định về lãnh đạo cơ quan báo chí; điều kiện xét cấp thẻ nhà báo lần đầu; quy định Nhà nước đầu tư công cụ số để thực hiện giám sát báo chí, đo lường chỉ số tin cậy, định hướng mạng phục vụ công tác quản lý báo chí…
Phân quyền triệt để, toàn diện cho chính quyền Thủ đô
Luật Thủ đô 2026 gồm 9 Chương, 36 Điều (giảm 18 điều so với Luật Thủ đô số 39/2024/QH15).
Với cách tiếp cận mới trong xây dựng luật, Luật Thủ đô 2026 tập trung phân quyền cho thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô; đồng thời tăng cường yêu cầu về kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Luật đã khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô; giá trị pháp lý đặc thù, được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô của Luật Thủ đô; giải thích các thuật ngữ bảo đảm rõ ràng, áp dụng thống nhất, trong đó có các thuật ngữ mới như “không gian tầm thấp”, “không gian tầm cao”; quy định về nguyên tắc áp dụng Luật Thủ đô; giao HĐND thành phố có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn; sửa đổi các quy định để bảo đảm Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Luật sửa đổi các quy định theo hướng phân quyền triệt để, toàn diện cho chính quyền thành phố trong việc quy định, quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền thành phố như: tổ chức, bộ máy; chi ngân sách, đặc biệt là các quy định tạo điều kiện thu hút nguồn lực cho Thủ đô phát triển; thực hiện quy hoạch, chỉnh trang, tái thiết đô thị; quản lý, sử dụng tài nguyên; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; phát triển, liên kết vùng Thủ đô; phát triển y tế, văn hóa; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó có việc áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.
Đồng thời, Luật bổ sung quy định về nguyên tắc phân quyền nhằm bảo đảm việc phân quyền được thống nhất, thông suốt và hiệu quả; gắn phân quyền với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; bảo đảm an ninh, quốc phòng, kinh tế tế và phát triển bền vững, bảo vệ quyền con người và bản sắc văn hóa.
Luật bổ sung quy định về: Thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền thành phố Hà Nội; thí điểm cơ chế, chính sách nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới; quy định một số nội dung và phân quyền cho chính quyền thành phố chủ động ban hành các quy định nhằm huy động nguồn lực phát triển Thủ đô trên các lĩnh vực quản lý, sử dụng nguồn tài chính, ngân sách…
Đáng chú ý, Luật quy định các cơ chế vượt trội về liên kết và phát triển vùng theo hướng xác định Hà Nội giữ vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng và động lực phát triển của vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và cả nước. Đồng thời, Luật quy định cơ chế thúc đẩy liên kết, phát triển vùng trên cơ sở đồng thuận, công khai, minh bạch và phù hợp với hệ thống quy hoạch; bổ sung cơ chế đầu tư, quản lý các dự án liên kết vùng theo hướng tăng cường phối hợp liên tỉnh, xác định rõ cơ quan chủ quản, ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách trung ương và địa phương, thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô để hỗ trợ đầu tư hạ tầng và xử lý các vấn đề liên vùng…
Thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng
Cũng có hiệu lực từ 1/7 tới là Luật Thương mại điện tử 2025; Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025; Luật Quản lý thuế 2025; Luật Chuyển đổi số 2025; Luật Dự trữ quốc gia 2025; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí 2025; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025; Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài 2026; Luật An ninh mạng 2025; Luật Công nghệ cao 2025; Luật Phòng bệnh 2025; Luật Tình trạng khẩn cấp 2025; Luật Xây dựng 2025; Luật Viên chức 2025; Luật Dân số 2025...
Đáng chú ý, với 8 chương, 30 điều, Luật Dân số chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của cả đất nước và từng địa phương...
Nổi bật, Luật có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh Dân số, trong đó có các biện pháp duy trì mức sinh thay thế. Cụ thể như trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng, lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con; hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với: phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi. Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 2 con đẻ trở lên..
Ngoài ra, Luật mới cũng bổ sung các quy định về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Cụ thể, Luật cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính. Luật cũng khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư…
Với 4 chương, 29 điều, Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng, mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc từ 6,2 triệu đồng/tháng. Đồng thời, giao Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh này trên cơ sở biến động của giá cả, thu nhập (không còn quy định chỉ số giá tiêu dùng biến động trên 20% mới điều chỉnh) để đảm bảo phù hợp linh hoạt với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Luật đã sửa đổi quy định về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh, điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh từ 200 triệu đồng/năm lên 500 triệu đồng/năm và cho trừ mức này trước khi tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu.
Luật đã bổ sung phương pháp tính thuế trên thu nhập (doanh thu - chi phí) đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Theo đó, hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 15% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 17% trên thu nhập; hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng, áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập. Riêng cá nhân có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm đến 3 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập.
Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu năm vượt trên 500 triệu đồng nhân với thuế suất 5%. Ngoài ra, điều chỉnh mức thuế suất từ 2% lên 5% đối với một số khoản thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử…
Luật Quản lý thuế gồm 9 chương, 53 điều. Quy định về phân nhóm người nộp thuế là một trong những điểm mới quan trọng của Luật; bổ sung nguyên tắc cơ quan thuế quản lý theo phân nhóm người nộp thuế. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan thuế chuyển từ phương thức quản lý thuế theo chức năng như trước đây sang quản lý theo đối tượng người nộp thuế kết hợp với chức năng. Đồng thời, Luật bổ sung quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện kê khai, tính thuế theo tỷ lệ %/doanh thu, thuế suất và phương pháp tính thuế quy định của các luật thuế, được cơ quan thuế hỗ trợ thực hiện khai thuế trên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế và thông tin do người nộp thuế cung cấp. Bổ sung quy định nguyên tắc hợp tác quốc tế và quản lý thuế quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế và bảo vệ quyền đánh thuế hợp pháp của Việt Nam…
Tăng cường phân cấp, phân quyền
Từ ngày 1/7/2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; Luật Tương trợ tư pháp về dân sự 2025; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú 2025; Luật Phòng, chống ma túy 2025; Luật Thi hành án hình sự 2025; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật Thi hành án dân sự 2025; Luật Dẫn độ 2025; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, chính thức có hiệu lực thi hành.
Đáng chú ý, với 4 điều, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo nhận được sự quan tâm của người dân. Luật bổ sung nhiều quy định quan trọng về tiếp công dân trực tuyến; tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại; rút một phần nội dung khiếu nại; cho phép tiếp tục giải quyết khi người khiếu nại không dự đối thoại; bổ sung nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các trường hợp chưa được Luật điều chỉnh. Luật quy định rõ hơn trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã, cấp tỉnh và các cơ quan quản lý nhà nước không tổ chức thanh tra trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; bổ sung quy định về ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ cho Tổng Thanh tra Chính phủ trong việc giải quyết tố cáo; hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận nội dung tố cáo; quy định chấm dứt bảo vệ khi người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ đã quy định...
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng gồm 2 điều; sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng theo hướng, quy định chung về các nội dung đánh giá cho phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương. Luật giao Chính phủ quy định các tiêu chí đánh giá nhằm bảo đảm tính chủ động và tính chịu trách nhiệm của các bộ, UBND cấp tỉnh về công tác phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung quy định về giá trị tài sản, mức thu nhập phải kê khai và kê khai bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Theo đó, giá trị mỗi loại tài sản phải kê khai là từ 150 triệu đồng trở lên và giá trị tài sản, thu nhập phải kê khai bổ sung là từ 1 tỷ đồng trở lên.

Theo vnanet.vn
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ